Bộ đơn giá tuy đã rất dày nhưng cũng không đủ tất cả các công việc. Trong thực tế bạn sẽ gặp rất nhiều công việc không có trong bộ đơn giá. Có 3 trường hợp như sau:
1. Công việc có đơn giá tương đương. Trường hợp này chọn đơn giá và sửa tên. VD:
- Công tác đắp cát tôn nền, đắp cát hố móng ... không có trong đơn giá. Vì vậy, ta thường phải lấy đơn giá tương đương là Đắp cát nền móng công trình (Mã hiệu AB.13411) rồi sửa tên.
- Công tác BT, ván khuôn cổ cột cũng không có trong đơn giá. Vì vậy thường chúng ta phải lấy đơn giá BT, ván khuôn cột để áp dụng mặc dù tính chất công việc khác nhau khá nhiều.
2. Công việc có đơn giá gần giống nhưng tính chất công việc khác nhau. Trường hợp này chọn đơn giá gần giống nhất rồi sau đó sửa định mức và đơn giá. VD:
Trong thiết kế có công tác đổ BT lót đá 4x6 mác 75. Trong đơn giá chỉ có mác 100 là thấp nhất. Ta sẽ phải chọn đơn giá mác 100 rồi sau đó sửa:
- Định mức: Phải tính lại định mức xi măng, đá, cát ...
- Đơn giá: Tính lại đơn giá.
Trong thực tế, người ta thường nội suy đơn giản thôi (vì thực ra để tính chính xác tương đối rắc rối mà không phải ai cũng làm được). Chẳng hạn trong trường hợp này, đa số mọi người chỉ sửa định mức xi măng bằng cách nội suy, còn đá, cát thì coi như không thay đổi cho đơn giản.
Thường trong các dự toán có các mã hiệu (theo nhà nước) sau có thêm chữ "vd" (vận dụng) là trường hợp này.
3. Công việc hoàn toàn không có trong bộ đơn giá: Sẽ phải tính định mức và đơn giá từ đầu. Ví dụ nếu làm công tác chống thấm bằng sika 2 thành phần chẳng hạn, bạn sẽ phải căn cứ vào tài liệu kỹ thuật của Sika để xác định định mức (mỗi m2 thì hết bao nhiêu kg phụ gia loại A, bao nhiêu kg phụ gia loại B, bao nhiêu nhân công, bao nhiêu máy ...) rồi sau mới tính ra đơn giá.
Nhưng cũng tương tự trường hợp 2, người ta thường quy về một bài toán đơn giản nhất để tính. Chẳng hạn như trong ví dụ trên, người ta sẽ coi như khoán cho nhà thầu chống thấm là bao nhiêu tiền/m2 chứ nếu tính chi tiết sẽ rất phức tạp.
Thứ Tư, 11 tháng 9, 2013
Bài 30: Một số cách tính khác
Như vậy, bạn đã biết để tính được dự toán phải làm 5 bảng. Nhân công, Máy TC và các chi phí khác tính giống nhau, riêng vật liệu thì có 2 cách tính:
Cách 1 - Áp giá vật tư thực tế: Không sử dụng tổng tiền vật liệu theo đơn giá, tính tổng khối lượng vật liệu và áp giá vật liệu thực tế. Cách này phổ biến ở khu vực Tp. HCM và miền Tây nam bộ.
Cách 2 - Bù giá vật tư: Sử dụng tổng tiền vật liệu theo đơn giá (ở bảng 1) sau đó tính thêm phần chênh lệch giá giữa giá trong đơn giá và giá thực tế. Cách này phổ biến ở miền Bắc và miền Trung.
Nói chung, đây là 2 cách làm phổ biến hiện nay. Tuy nhiên, trong thực tế còn nhiều cách làm khác. Tôi xin nêu thêm 2 cách hay dùng hiện nay nữa.
Cách 3 (Theo hướng dẫn ở TT18/2008/TT-BXD): Áp giá thực tế cho cả vật liệu, nhân công, máy TC.
- Ở bảng 1: Không cần tra đơn giá nữa, chỉ dùng để tính khối lượng (tên có thể đổi thành Bảng tính khối lượng thay vì Bảng dự toán chi tiết)
- Bảng 2: Phải phân tích cả vật liệu, nhân công và máy thi công (thay vì chỉ phân tích vật liệu)
- Bảng 3: Tổng hợp cả vật liệu, nhân công, máy thi công và áp giá thực tế (thay vì chỉ có vật liệu)
- Bảng 4: Vật liệu lấy theo vật liệu thực tế như cách 1, nhân công và máy TC cũng lấy theo thực tế luôn (không phải lấy theo đơn giá rồi nhân hệ số)
Tóm lại cách 3 này tương tự như cách 1 nhưng sẽ tính giá thực tế cho cả vật liệu, nhân công và máy thi công và hoàn toàn không cần sử dụng tới đơn giá nữa.
Cách 4: Tính lại đơn giá vật liệu, nhân công, máy thi công
Cách này thường được các đơn vị ngành giao thông sử dụng. Có lẽ do đặc thù ngành giao thông là các công trình trải dài qua các địa phương nên nhiều khi cùng một con đường, cùng một thiết kế nhưng nếu bên này trên địa phận tỉnh này, bên kia trên địa phận tỉnh kia thì khi áp đúng đơn giá địa phương theo quy định chắc chắn đơn giá/md sẽ khác nhau.
Vì vậy, họ chọn cách làm là tính lại đơn giá theo giá vật liệu, nhân công, máy TC thực tế (tương tự như cách tính Bộ đơn giá).
Cách 1 - Áp giá vật tư thực tế: Không sử dụng tổng tiền vật liệu theo đơn giá, tính tổng khối lượng vật liệu và áp giá vật liệu thực tế. Cách này phổ biến ở khu vực Tp. HCM và miền Tây nam bộ.
Cách 2 - Bù giá vật tư: Sử dụng tổng tiền vật liệu theo đơn giá (ở bảng 1) sau đó tính thêm phần chênh lệch giá giữa giá trong đơn giá và giá thực tế. Cách này phổ biến ở miền Bắc và miền Trung.
Nói chung, đây là 2 cách làm phổ biến hiện nay. Tuy nhiên, trong thực tế còn nhiều cách làm khác. Tôi xin nêu thêm 2 cách hay dùng hiện nay nữa.
Cách 3 (Theo hướng dẫn ở TT18/2008/TT-BXD): Áp giá thực tế cho cả vật liệu, nhân công, máy TC.
- Ở bảng 1: Không cần tra đơn giá nữa, chỉ dùng để tính khối lượng (tên có thể đổi thành Bảng tính khối lượng thay vì Bảng dự toán chi tiết)
- Bảng 2: Phải phân tích cả vật liệu, nhân công và máy thi công (thay vì chỉ phân tích vật liệu)
- Bảng 3: Tổng hợp cả vật liệu, nhân công, máy thi công và áp giá thực tế (thay vì chỉ có vật liệu)
- Bảng 4: Vật liệu lấy theo vật liệu thực tế như cách 1, nhân công và máy TC cũng lấy theo thực tế luôn (không phải lấy theo đơn giá rồi nhân hệ số)
Tóm lại cách 3 này tương tự như cách 1 nhưng sẽ tính giá thực tế cho cả vật liệu, nhân công và máy thi công và hoàn toàn không cần sử dụng tới đơn giá nữa.
Cách 4: Tính lại đơn giá vật liệu, nhân công, máy thi công
Cách này thường được các đơn vị ngành giao thông sử dụng. Có lẽ do đặc thù ngành giao thông là các công trình trải dài qua các địa phương nên nhiều khi cùng một con đường, cùng một thiết kế nhưng nếu bên này trên địa phận tỉnh này, bên kia trên địa phận tỉnh kia thì khi áp đúng đơn giá địa phương theo quy định chắc chắn đơn giá/md sẽ khác nhau.
Vì vậy, họ chọn cách làm là tính lại đơn giá theo giá vật liệu, nhân công, máy TC thực tế (tương tự như cách tính Bộ đơn giá).
Thứ Ba, 10 tháng 9, 2013
Bài 29: Bảng 5 - "Tổng dự toán"
Bảng này dùng để tổng hợp giá trị dự toán các hạng mục (nếu công trình có nhiều hạng mục), tính thêm chi phí thiết bị (nếu có), chi phí tư vấn và QLDA, chi phí dự phòng.
Nếu bạn làm ở đơn vị thi công thì chỉ cần giá trị tổng cộng ở bảng Tổng hợp dự toán mà thôi, vì đó là số tiền mà CĐT sẽ thanh toán cho đơn vị thi công. Nhưng nếu bạn làm ở ban Quản lý dự án, Chủ đầu tư, tư vấn thiết kế ... thì sẽ phải tính bảng này.
Bảng này dễ, các bạn chỉ cần tra đúng định mức và làm theo mẫu.
Nói chung, bảng này không có mẫu nào thống nhất, mỗi đơn vị lại có cách làm riêng. Mẫu này chỉ mang tính gợi ý. Bạn hãy làm theo đúng mẫu của đơn vị bạn.
Nếu bạn làm ở đơn vị thi công thì chỉ cần giá trị tổng cộng ở bảng Tổng hợp dự toán mà thôi, vì đó là số tiền mà CĐT sẽ thanh toán cho đơn vị thi công. Nhưng nếu bạn làm ở ban Quản lý dự án, Chủ đầu tư, tư vấn thiết kế ... thì sẽ phải tính bảng này.
Bảng này dễ, các bạn chỉ cần tra đúng định mức và làm theo mẫu.
Nói chung, bảng này không có mẫu nào thống nhất, mỗi đơn vị lại có cách làm riêng. Mẫu này chỉ mang tính gợi ý. Bạn hãy làm theo đúng mẫu của đơn vị bạn.
Thứ Hai, 9 tháng 9, 2013
Bài 28: Bảng 4 - "Tổng hợp dự toán"
Ở các bài trước, bạn tính được giá trị vật liệu, nhân công, máy thi công thì mới chỉ là những chi phí trực tiếp. Để triển khai công trường còn cần thêm các chi phí như: chi phí quản lý, lợi nhuận nhà thầu, chi phí chuẩn bị (cổng hàng rào thẻ bảng tên đồng phục bảo hộ ...).
Những chi phí đó được tính trong bảng THDT này
Chi phí vật liệu lấy ở bảng tổng hợp vật tư (bảng 3). Trường hợp tính theo kiểu bù giá thì lấy ở tổng thành tiền vật liệu (trong bảng 1) cộng với bù giá vật liệu ở bảng 3.
Chi phí nhân công và máy thi công lấy ở bảng 1 rồi nhân hệ số.
Trực tiếp phí khác được tra ở thông tư 04 (bảng 3.7 trang 47)
Chi phí chung (CP quản lý) và thu nhập chịu thuế tính trước (lợi nhuận) cũng ở TT04, bảng 3.8 trang 49.
Chi phí lán trại tạm tra ở trang 10, mục 1.1.5
Những chi phí đó được tính trong bảng THDT này
Chi phí vật liệu lấy ở bảng tổng hợp vật tư (bảng 3). Trường hợp tính theo kiểu bù giá thì lấy ở tổng thành tiền vật liệu (trong bảng 1) cộng với bù giá vật liệu ở bảng 3.
Chi phí nhân công và máy thi công lấy ở bảng 1 rồi nhân hệ số.
Trực tiếp phí khác được tra ở thông tư 04 (bảng 3.7 trang 47)
Chi phí chung (CP quản lý) và thu nhập chịu thuế tính trước (lợi nhuận) cũng ở TT04, bảng 3.8 trang 49.
Chi phí lán trại tạm tra ở trang 10, mục 1.1.5
Bài 27: Vật liệu khác
Ở bài trước, các bạn thấy có sự sai lệch giữa cách tính giá trị vật tư thực tế và bù giá.
Tuy không nhiều, nhưng nó luôn luôn xảy ra.
Lúc trước, để đơn giản, tôi giải thích là do sai số. Nhiều khi có các bạn thắc mắc, tôi lười cũng trả lời đại như vậy cho xong.
Thực ra, sai số đó luôn luôn xảy ra là do cái "Vật liệu khác"
VD: Với công tác xây tường
Vật liệu khác tính theo %. Khi tính theo kiểu vật tư thực tế thì có thể tính được giá trị vật liệu khác, nhưng khi tính kiểu bù giá thì không kiểu gì tính được phần bù giá của vật liệu khác. Do vậy giá trị tính theo 2 cách luôn luôn chênh lệch.
Về giá trị vật liệu khác, một số phần mềm không tính được nên bỏ luôn. Thực ra, với những công trình đấu thầu thì cũng không quan trọng lắm, nhưng với những công trình giao thầu thì tính thêm được đồng nào tốt đồng đó (miễn là đúng theo quy định). Vì vậy, những công trình được giao thầu thì bắt buộc phải tính vật liệu khác (VD công trình 300tr thì cũng được 2-3tr uống bia chứ bộ).
Minh họa cách tính vật liệu khác trong phần mềm dtPro Excellent!
Vật liệu khác được tính chung trong bảng PTVT. Đầu tiên, áp giá vật tư để tính tổng đơn giá vật tư. Sau đó nhân với khối lượng và định mức vật liệu khác sẽ được giá trị vật liệu khác của công việc đó. Cộng tổng sẽ được giá trị vật liệu khác cho toàn công trình.
Tuy không nhiều, nhưng nó luôn luôn xảy ra.
Lúc trước, để đơn giản, tôi giải thích là do sai số. Nhiều khi có các bạn thắc mắc, tôi lười cũng trả lời đại như vậy cho xong.
Thực ra, sai số đó luôn luôn xảy ra là do cái "Vật liệu khác"
VD: Với công tác xây tường
Vật liệu khác tính theo %. Khi tính theo kiểu vật tư thực tế thì có thể tính được giá trị vật liệu khác, nhưng khi tính kiểu bù giá thì không kiểu gì tính được phần bù giá của vật liệu khác. Do vậy giá trị tính theo 2 cách luôn luôn chênh lệch.
Về giá trị vật liệu khác, một số phần mềm không tính được nên bỏ luôn. Thực ra, với những công trình đấu thầu thì cũng không quan trọng lắm, nhưng với những công trình giao thầu thì tính thêm được đồng nào tốt đồng đó (miễn là đúng theo quy định). Vì vậy, những công trình được giao thầu thì bắt buộc phải tính vật liệu khác (VD công trình 300tr thì cũng được 2-3tr uống bia chứ bộ).
Minh họa cách tính vật liệu khác trong phần mềm dtPro Excellent!
Vật liệu khác được tính chung trong bảng PTVT. Đầu tiên, áp giá vật tư để tính tổng đơn giá vật tư. Sau đó nhân với khối lượng và định mức vật liệu khác sẽ được giá trị vật liệu khác của công việc đó. Cộng tổng sẽ được giá trị vật liệu khác cho toàn công trình.
Bài 26: Bảng 3 - "Bảng tổng hợp vật tư"
Bạn cộng tổng khối lượng vật tư ở bảng "Phân tích vật tư sang"
Bây giờ, bạn sẽ tra đơn giá thực tế.
Tôi lại vào Google để download bảng giá vật tư thực tế. Đã download được bảng giá tháng 6
Bạn lưu ý 2 điểm:
- Giá trong bảng giá này đã có thuế nên bạn phải lấy giá /1.1 để ra giá trước thuế.
- Cát thì ghi là giá tại Tp. Quảng Ngãi nên chỉ cần /1.1 là xong, nhưng đá thì ghi là ở mỏ đá Bình Đông nên phải cộng thêm cước vận chuyển.
Bạn hãy tra, nhập và tính ra thành tiền vật tư thực tế.
Có thể một số vật tư không tìm thấy trong bảng giá của Sở XD. Bạn phải tìm báo giá bên ngoài hoặc lấy nguồn từ chứng thư thẩm định giá hoặc hóa đơn.
Cách tính tổng giá trị vật tư thực tế này phổ biến ở khu vực tp. HCM và các tỉnh miền Tây. Miền Bắc và miền Trung thường tính kiểu "bù giá" tức là chỉ tính phần chênh giữa giá đã tính trong đơn giá và giá thực tế mà thôi.
Giá trị vật tư thực tế sẽ bằng tổng TT vật liệu (ở bảng 1) cộng với bù giá vật liệu:
6.964.293 + 6.351.388 = 13.315.681
Bạn thấy rằng giá trị vật liệu tính theo 2 cách này gần như tương đương nhau, sai lệch không đáng kể do sai số tính toán mà thôi.
Một lưu ý nữa, bảng này dùng để tính chênh lệch giá vật tư, nên những vật tư nào không có chênh lệch (ví dụ ở trên là nước) bạn có thể không cần nhập cả giá gốc và giá thực tế luôn. Tức là nếu nền kinh tế vận hành đúng theo "Kinh tế kế hoạch", giá vật tư không thay đổi thì chúng ta không cần bảng này!
Bây giờ, bạn sẽ tra đơn giá thực tế.
Tôi lại vào Google để download bảng giá vật tư thực tế. Đã download được bảng giá tháng 6
Bạn lưu ý 2 điểm:
- Giá trong bảng giá này đã có thuế nên bạn phải lấy giá /1.1 để ra giá trước thuế.
- Cát thì ghi là giá tại Tp. Quảng Ngãi nên chỉ cần /1.1 là xong, nhưng đá thì ghi là ở mỏ đá Bình Đông nên phải cộng thêm cước vận chuyển.
Bạn hãy tra, nhập và tính ra thành tiền vật tư thực tế.
Có thể một số vật tư không tìm thấy trong bảng giá của Sở XD. Bạn phải tìm báo giá bên ngoài hoặc lấy nguồn từ chứng thư thẩm định giá hoặc hóa đơn.
Cách tính tổng giá trị vật tư thực tế này phổ biến ở khu vực tp. HCM và các tỉnh miền Tây. Miền Bắc và miền Trung thường tính kiểu "bù giá" tức là chỉ tính phần chênh giữa giá đã tính trong đơn giá và giá thực tế mà thôi.
Giá trị vật tư thực tế sẽ bằng tổng TT vật liệu (ở bảng 1) cộng với bù giá vật liệu:
6.964.293 + 6.351.388 = 13.315.681
Bạn thấy rằng giá trị vật liệu tính theo 2 cách này gần như tương đương nhau, sai lệch không đáng kể do sai số tính toán mà thôi.
Một lưu ý nữa, bảng này dùng để tính chênh lệch giá vật tư, nên những vật tư nào không có chênh lệch (ví dụ ở trên là nước) bạn có thể không cần nhập cả giá gốc và giá thực tế luôn. Tức là nếu nền kinh tế vận hành đúng theo "Kinh tế kế hoạch", giá vật tư không thay đổi thì chúng ta không cần bảng này!
Bài 25: Bảng 2 - "Bảng phân tích vật tư"
Bạn sẽ áp dụng định mức (do nhà nước công bố) để tính xem mỗi công việc sẽ phải sử dụng hết bao nhiêu vật tư các loại.
Bạn đã biết tra đơn giá rồi nên tôi không bắt các bạn tra định mức nữa mà tra giùm luôn cho nhanh.
Bạn lấy khối lượng công việc, nhân với định mức để được khối lượng vật tư hao phí.
Sau đó, bạn cộng dồn vật liệu lại để được bảng tổng hợp vật tư sử dụng cho công trình.
Lưu ý: Tất nhiên, các dự toán thực sự sẽ có rất nhiều công việc. VD: Bê tông, xây, tô, ốp, lát ... đều sử dụng xi măng. Lúc đó, bạn sẽ phải cộng dồn tất cả xi măng lại thì mới có khối lượng xi măng dùng cho cả công trình.
Bạn đã biết tra đơn giá rồi nên tôi không bắt các bạn tra định mức nữa mà tra giùm luôn cho nhanh.
Bạn lấy khối lượng công việc, nhân với định mức để được khối lượng vật tư hao phí.
Sau đó, bạn cộng dồn vật liệu lại để được bảng tổng hợp vật tư sử dụng cho công trình.
Lưu ý: Tất nhiên, các dự toán thực sự sẽ có rất nhiều công việc. VD: Bê tông, xây, tô, ốp, lát ... đều sử dụng xi măng. Lúc đó, bạn sẽ phải cộng dồn tất cả xi măng lại thì mới có khối lượng xi măng dùng cho cả công trình.
Bài 24: Hì hụi tra đơn giá ... sai
Chúng ta hì hụi tra đơn giá, tính thành tiền. Nhưng buồn thay, nó lại ... sai, như đã phân tích ở bài 18. Và chúng ta sẽ phải điều chỉnh.
Như bạn đã biết ở bài 20, nhân công và máy thi công sẽ được nhân hệ số. Tôi sẽ lên Google để tìm văn bản điều chỉnh của tỉnh Quảng Ngãi.
May quá, có đây rồi. Lương tối thiểu của tỉnh Quảng Ngãi, có 2 khu vực. Tp. Quảng Ngãi, huyện Sơn Tịnh, Bình sơn: 1.800.000đ/tháng. Khu vực còn lại: 1.650.000đ/tháng
Hệ số nhân công được điều chỉnh tương ứng là: 4,0 và 3,667. Giả sử công trình chúng ta đang tính nằm ở Tp. Quảng Ngãi, hệ số nhân công sẽ là 4,0
Hệ số máy phức tạp hơn, hướng dẫn rất dài. Nếu bạn làm công trình ở Quảng Ngãi thật sự, bạn đọc kỹ hướng dẫn và ví dụ là làm được. Ở đây, tôi lấy hệ số là 1.727 cho gọn để minh họa.
Nhân công sau điều chỉnh: 6.220.190 x 4 = 24.880.760đ
Máy sau điều chỉnh: 105.446 x 1.727 = 182.071đ
Đối với vật liệu, sẽ phức tạp hơn vì chúng ta không thể nhân hệ số (vật liệu có loại tăng nhiều, có loại tăng ít). Vì vậy, chúng ta phải tính lại giá trị vật liệu theo đơn giá thực tế bằng cách:
Bảng 2: Phân tích vật tư, tính xem mỗi công việc sử dụng hết bao nhiêu vật tư.
Bảng 3: Tổng hợp vật tư, tổng cộng vật tư dùng cho cả công trình. Sau đó áp giá thực tế (hoặc tính bù giá theo kiểu miền Bắc và miền Trung)
Như bạn đã biết ở bài 20, nhân công và máy thi công sẽ được nhân hệ số. Tôi sẽ lên Google để tìm văn bản điều chỉnh của tỉnh Quảng Ngãi.
May quá, có đây rồi. Lương tối thiểu của tỉnh Quảng Ngãi, có 2 khu vực. Tp. Quảng Ngãi, huyện Sơn Tịnh, Bình sơn: 1.800.000đ/tháng. Khu vực còn lại: 1.650.000đ/tháng
Hệ số nhân công được điều chỉnh tương ứng là: 4,0 và 3,667. Giả sử công trình chúng ta đang tính nằm ở Tp. Quảng Ngãi, hệ số nhân công sẽ là 4,0
Hệ số máy phức tạp hơn, hướng dẫn rất dài. Nếu bạn làm công trình ở Quảng Ngãi thật sự, bạn đọc kỹ hướng dẫn và ví dụ là làm được. Ở đây, tôi lấy hệ số là 1.727 cho gọn để minh họa.
Nhân công sau điều chỉnh: 6.220.190 x 4 = 24.880.760đ
Máy sau điều chỉnh: 105.446 x 1.727 = 182.071đ
Đối với vật liệu, sẽ phức tạp hơn vì chúng ta không thể nhân hệ số (vật liệu có loại tăng nhiều, có loại tăng ít). Vì vậy, chúng ta phải tính lại giá trị vật liệu theo đơn giá thực tế bằng cách:
Bảng 2: Phân tích vật tư, tính xem mỗi công việc sử dụng hết bao nhiêu vật tư.
Bảng 3: Tổng hợp vật tư, tổng cộng vật tư dùng cho cả công trình. Sau đó áp giá thực tế (hoặc tính bù giá theo kiểu miền Bắc và miền Trung)
Bài 23: Bảng 1 - "Bảng dự toán chi tiết"
Phù, xong. Bạn đã hiểu về cách quản lý của nhà nước. Giờ ta bắt tay vào tính toán cụ thể.
Bảng đầu tiên là "Bảng dự toán chi tiết". Cũng có một vài tên gọi khác như là "Bảng tiên lượng dự toán" hay "Bảng khối lượng dự toán" nhưng tên này được sử dụng phổ biến.
Mẫu bảng này như sau:
Bạn sẽ phải tra đơn giá tỉnh/thành phố nơi xây dựng công trình.
Tuy rằng sau này các bạn làm bằng phần mềm, nhưng để các bạn hiểu được bản chất, các bạn hãy thử tra bằng tay. Nếu các bạn có cuốn đơn giá in thì tốt, còn không mời download file PDF trong file nén tại đây.
Khi tra, bạn sẽ phải tìm nhóm công việc tại mục mục, sau đó căn cứ tính chất công việc để tìm mã hiệu cho đúng.
VD: Với công tác đào đất móng trong ví dụ hôm trước.
Công tác đào đắp đất đá cát trang 24
Các bạn chú ý đọc phần thuyết minh, cách tính cự ly vận chuyển, thành phần công việc ... để áp dụng cho đúng.
Phần đào móng cột ở trang 27. Ở đây, các bạn lại phải tra một bảng khác là bảng phân cấp đất ở trang 5 để xác định cấp đất. VD đất cấp 2.
Móng rộng >1m, sâu >1m nên mã hiệu sẽ là AB.11442, ĐG vật liệu và máy TC không có, chỉ có đơn giá nhân công là 52.589đ/m3.
Bạn làm tương tự với các công việc khác, sau đó lấy khối lượng nhân với đơn giá và cộng tổng.
Bạn lưu ý, lúc trước tôi hướng dẫn các bạn tính khối lượng xong rồi mới đưa vào bảng DTCT này. Nhưng trong thực tế, người ta thường kết hợp bảng tính khối lượng vào đây luôn, như mẫu trên
Bảng đầu tiên là "Bảng dự toán chi tiết". Cũng có một vài tên gọi khác như là "Bảng tiên lượng dự toán" hay "Bảng khối lượng dự toán" nhưng tên này được sử dụng phổ biến.
Mẫu bảng này như sau:
Bạn sẽ phải tra đơn giá tỉnh/thành phố nơi xây dựng công trình.
Tuy rằng sau này các bạn làm bằng phần mềm, nhưng để các bạn hiểu được bản chất, các bạn hãy thử tra bằng tay. Nếu các bạn có cuốn đơn giá in thì tốt, còn không mời download file PDF trong file nén tại đây.
Khi tra, bạn sẽ phải tìm nhóm công việc tại mục mục, sau đó căn cứ tính chất công việc để tìm mã hiệu cho đúng.
VD: Với công tác đào đất móng trong ví dụ hôm trước.
Công tác đào đắp đất đá cát trang 24
Các bạn chú ý đọc phần thuyết minh, cách tính cự ly vận chuyển, thành phần công việc ... để áp dụng cho đúng.
Phần đào móng cột ở trang 27. Ở đây, các bạn lại phải tra một bảng khác là bảng phân cấp đất ở trang 5 để xác định cấp đất. VD đất cấp 2.
Móng rộng >1m, sâu >1m nên mã hiệu sẽ là AB.11442, ĐG vật liệu và máy TC không có, chỉ có đơn giá nhân công là 52.589đ/m3.
Bạn làm tương tự với các công việc khác, sau đó lấy khối lượng nhân với đơn giá và cộng tổng.
Bạn lưu ý, lúc trước tôi hướng dẫn các bạn tính khối lượng xong rồi mới đưa vào bảng DTCT này. Nhưng trong thực tế, người ta thường kết hợp bảng tính khối lượng vào đây luôn, như mẫu trên
Thứ Sáu, 6 tháng 9, 2013
Bài 22: Các văn bản khác
Cách quản lý của chúng ta hơi ngẫu hứng theo kiểu "hở đâu bịt đó" nên có rất nhiều văn bản ảnh hưởng tới việc tính dự toán. Ở đây tôi xin nhắc một vài văn bản chính.
1. Thông tư 17/2000/TT-BXD: Phân loại vật tư/thiết bị xây dựng.
Tại sao phải có văn bản này? Với công trình tư nhân thì tôi thích để là thiết bị hay vật liệu cho tiện quản lý thì tùy tôi chứ, sao phải quy định?
Với công trình nhà nước thì hơi khác. Do thiết kế phí và các chi phí tư vấn được tính theo tỷ lệ % so với chi phí xây lắp (thiết bị thì không được tính), nên các công ty tư vấn thường có xu hướng đưa các loại lẽ ra là thiết bị vào thành vật liệu để thiết kế phí và CPTV cao lên. Sau Bộ Xây dựng phải ra văn bản này để phân loại cái nào là thiết bị, cái nào là vật liệu.
Tuy rằng văn bản này được ban hành từ năm 2000 nhưng hiện chưa có văn bản thay thế nên vẫn được áp dụng, tuy rằng có nhiều thay đổi chưa được cập nhật. VD: Các thiết bị vệ sinh, thuyền tắm, thuyền massage có giá trị hàng trăm triệu nhưng vẫn được tính vào vật liệu vì năm 2000 những loại này chưa xuất hiện nhiều ở nước ta nên BXD chưa biết để phân loại vào thiết bị.
Áp dụng cái này không khó, bạn chỉ cần đọc kỹ là làm được thôi. Tuy nhiên, cũng có một vài cái hơi rối, ví dụ: Ống D<600 thì được tính là vật liệu, trên 600 thì phần giá tương đương với ống 600 thì tính vào vật liệu, phần giá trị còn lại thì phải tính vào thiết bị.
Nếu bạn tính đường ống D1000, bạn sẽ phải lấy giá của loại ống D600 nữa. Sau đó phần giá của ống D600 được tính vào vật liệu, phần giá chênh lệch tính vào chênh lệch vật liệu đặc thù.
Trước tôi có làm một dự án cấp nước, tìm được báo giá ống D1000 đã vã mồ hôi rồi (vì ống phải nhập khẩu, chỉ một vài đơn vị kinh doanh, dự án nào họ đều biết hết nên rất khó lấy được giá đúng), sau lại phải tìm giá ống D600 cùng chủng loại. Nhưng cùng chủng loại đó họ không sản xuất, làm sao có báo giá. Bó tay.
Bạn có thể download TT17 tại đây.
2. Cước vận chuyển: Trước kia sử dụng Quyết định 89/2000/QĐ-BVGCP để tính cước vận chuyển, nhưng sau các đợt rà soát văn bản thì nó đã bị bãi bỏ bằng quyết định 57/2004/QĐ-BTC và việc hướng dẫn cước vận chuyển được giao cho tỉnh. Nhưng hiện cũng chỉ có vài tỉnh có quy định về cước vận chuyển (tp. HCM cũng không có).
Tôi thường lách bằng cách lấy thêm các báo giá của nhà cung cấp tại chân công trình nếu trong bảng giá vật liệu của tính chỉ là giá tại nơi bán.
3. Định mức chi phí QLDA & tư vấn: Dùng để tính chi phí quản lý dự án và chi phí tư vấn (trước hay gọi gọn là chi phí khác). Hiện đang sử dụng định mức theo QĐ 957/2009/QĐ-BXD. Cái này dễ tra, bạn có thể download tại đây.
Còn một số văn bản khác ít va chạm như:
- Quy định về thuế suất thuế GTGT: Trong xây dựng thì đều là 10%, nhưng với các dự án ODA thì được ưu đãi (0%), các dự án sửa chữa duy tu công trình lịch sử văn hóa gì đó được ưu đãi (5%). Nếu bạn làm các dạng công trình này thì chú ý.
- Một số văn bản quy định về chi phí kiểm toán quyết toán ... của Bộ Tài chính, các bạn cũng phải lưu ý để đưa vào bảng tổng dự toán.
- Các văn bản quy định về bảo hiểm xây dựng: Bảo hiểm xây dựng không phải là bảo hiểm bắt buộc nhưng CĐT muốn dự trù cho đủ chi phí trong bảng tổng dự toán nên phải tham khảo các văn bản để đưa vào cho đầy đủ.
Nói chung còn nhiều văn bản khác, nhiều cái mang tính chất địa phương nên các bạn phải tìm hiểu kỹ. Chẳng hạn trước tôi làm công trình dạng đào đường, chính người bên thẩm tra cho tôi văn bản của UBND nói cho phép tính thêm vỏ bao để xúc và chuyển đi (chi phí tăng gấp mấy lần tính chuyển đi bằng ô tô).
1. Thông tư 17/2000/TT-BXD: Phân loại vật tư/thiết bị xây dựng.
Tại sao phải có văn bản này? Với công trình tư nhân thì tôi thích để là thiết bị hay vật liệu cho tiện quản lý thì tùy tôi chứ, sao phải quy định?
Với công trình nhà nước thì hơi khác. Do thiết kế phí và các chi phí tư vấn được tính theo tỷ lệ % so với chi phí xây lắp (thiết bị thì không được tính), nên các công ty tư vấn thường có xu hướng đưa các loại lẽ ra là thiết bị vào thành vật liệu để thiết kế phí và CPTV cao lên. Sau Bộ Xây dựng phải ra văn bản này để phân loại cái nào là thiết bị, cái nào là vật liệu.
Tuy rằng văn bản này được ban hành từ năm 2000 nhưng hiện chưa có văn bản thay thế nên vẫn được áp dụng, tuy rằng có nhiều thay đổi chưa được cập nhật. VD: Các thiết bị vệ sinh, thuyền tắm, thuyền massage có giá trị hàng trăm triệu nhưng vẫn được tính vào vật liệu vì năm 2000 những loại này chưa xuất hiện nhiều ở nước ta nên BXD chưa biết để phân loại vào thiết bị.
Áp dụng cái này không khó, bạn chỉ cần đọc kỹ là làm được thôi. Tuy nhiên, cũng có một vài cái hơi rối, ví dụ: Ống D<600 thì được tính là vật liệu, trên 600 thì phần giá tương đương với ống 600 thì tính vào vật liệu, phần giá trị còn lại thì phải tính vào thiết bị.
Nếu bạn tính đường ống D1000, bạn sẽ phải lấy giá của loại ống D600 nữa. Sau đó phần giá của ống D600 được tính vào vật liệu, phần giá chênh lệch tính vào chênh lệch vật liệu đặc thù.
Trước tôi có làm một dự án cấp nước, tìm được báo giá ống D1000 đã vã mồ hôi rồi (vì ống phải nhập khẩu, chỉ một vài đơn vị kinh doanh, dự án nào họ đều biết hết nên rất khó lấy được giá đúng), sau lại phải tìm giá ống D600 cùng chủng loại. Nhưng cùng chủng loại đó họ không sản xuất, làm sao có báo giá. Bó tay.
Bạn có thể download TT17 tại đây.
2. Cước vận chuyển: Trước kia sử dụng Quyết định 89/2000/QĐ-BVGCP để tính cước vận chuyển, nhưng sau các đợt rà soát văn bản thì nó đã bị bãi bỏ bằng quyết định 57/2004/QĐ-BTC và việc hướng dẫn cước vận chuyển được giao cho tỉnh. Nhưng hiện cũng chỉ có vài tỉnh có quy định về cước vận chuyển (tp. HCM cũng không có).
Tôi thường lách bằng cách lấy thêm các báo giá của nhà cung cấp tại chân công trình nếu trong bảng giá vật liệu của tính chỉ là giá tại nơi bán.
3. Định mức chi phí QLDA & tư vấn: Dùng để tính chi phí quản lý dự án và chi phí tư vấn (trước hay gọi gọn là chi phí khác). Hiện đang sử dụng định mức theo QĐ 957/2009/QĐ-BXD. Cái này dễ tra, bạn có thể download tại đây.
Còn một số văn bản khác ít va chạm như:
- Quy định về thuế suất thuế GTGT: Trong xây dựng thì đều là 10%, nhưng với các dự án ODA thì được ưu đãi (0%), các dự án sửa chữa duy tu công trình lịch sử văn hóa gì đó được ưu đãi (5%). Nếu bạn làm các dạng công trình này thì chú ý.
- Một số văn bản quy định về chi phí kiểm toán quyết toán ... của Bộ Tài chính, các bạn cũng phải lưu ý để đưa vào bảng tổng dự toán.
- Các văn bản quy định về bảo hiểm xây dựng: Bảo hiểm xây dựng không phải là bảo hiểm bắt buộc nhưng CĐT muốn dự trù cho đủ chi phí trong bảng tổng dự toán nên phải tham khảo các văn bản để đưa vào cho đầy đủ.
Nói chung còn nhiều văn bản khác, nhiều cái mang tính chất địa phương nên các bạn phải tìm hiểu kỹ. Chẳng hạn trước tôi làm công trình dạng đào đường, chính người bên thẩm tra cho tôi văn bản của UBND nói cho phép tính thêm vỏ bao để xúc và chuyển đi (chi phí tăng gấp mấy lần tính chuyển đi bằng ô tô).
Bài 21: Lương tối thiểu vùng và lương tối thiểu chung
Đầu tiên, tôi dự định gộp phần này vào bài 20, nhưng đây là vấn đề rất nhiều anh em quan tâm nên tôi tách ra thành bài riêng.
Thực ra, lúc đầu chỉ có 1 mức lương tối thiểu mà thôi.
Sau, Hà nội, tp. HCM và các thành phố lớn kiến nghị là giá cả và chi phí ở thành phố quá cao so với nông thôn, mức lương chung như vậy không hợp lý. Nhà nước thấy đúng, nhưng nếu tăng thì sẽ có nhiều rắc rối (cùng là công chức, cùng ngạch bậc sao ở thành phố lại cao hơn? Nhất là bên công an, quân đội, ở thành phố đã sướng hơn ở các vùng sâu vùng xa rồi mà còn hưởng lương cao hơn nữa v..v..). Đồng thời, ngân sách cũng sẽ phải chi trả nhiều hơn.
Vì vậy, nhà nước chọn giải pháp ... khôn lỏi, các đối tượng hưởng lương từ ngân sách chỉ có 1 mức lương tối thiểu chung. Các đối tượng hưởng lương của doanh nghiệp sẽ chia thành 4 vùng (nội thành Hà nội - HCM - một vài địa bàn lân cận/ngoại thành Hà nội - HCM - lân cận - các thành phố lớn/các thành phố nhỏ/nông thôn). Thường lương tối thiểu chung được tăng sau lương tối thiểu vùng và luôn là mức thấp nhất của lương tối thiểu vùng.
Lĩnh vực xây dựng là khu vực doanh nghiệp nên áp dụng mức lương tối thiểu vùng.
Thực ra, lúc đầu chỉ có 1 mức lương tối thiểu mà thôi.
Sau, Hà nội, tp. HCM và các thành phố lớn kiến nghị là giá cả và chi phí ở thành phố quá cao so với nông thôn, mức lương chung như vậy không hợp lý. Nhà nước thấy đúng, nhưng nếu tăng thì sẽ có nhiều rắc rối (cùng là công chức, cùng ngạch bậc sao ở thành phố lại cao hơn? Nhất là bên công an, quân đội, ở thành phố đã sướng hơn ở các vùng sâu vùng xa rồi mà còn hưởng lương cao hơn nữa v..v..). Đồng thời, ngân sách cũng sẽ phải chi trả nhiều hơn.
Vì vậy, nhà nước chọn giải pháp ... khôn lỏi, các đối tượng hưởng lương từ ngân sách chỉ có 1 mức lương tối thiểu chung. Các đối tượng hưởng lương của doanh nghiệp sẽ chia thành 4 vùng (nội thành Hà nội - HCM - một vài địa bàn lân cận/ngoại thành Hà nội - HCM - lân cận - các thành phố lớn/các thành phố nhỏ/nông thôn). Thường lương tối thiểu chung được tăng sau lương tối thiểu vùng và luôn là mức thấp nhất của lương tối thiểu vùng.
Lĩnh vực xây dựng là khu vực doanh nghiệp nên áp dụng mức lương tối thiểu vùng.
Thứ Năm, 5 tháng 9, 2013
Bài 20: Điều chỉnh nhân công và máy thi công
Tương tự như vật tư, nhân công và máy thi công cũng thay đổi.
Tuy rằng giá thị trường luôn biến động, nhưng việc điều chỉnh thường chỉ dựa vào mức lương tối thiểu do nhà nước quy định.
VD: Với đơn giá Tp. HCM ban hành năm 2006 (công bố lại vào 2008) sử dụng mức lương tối thiểu là 350.000đ/tháng
- Năm 2006, lương tối thiểu tăng lên 450.000đ/tháng, được điều chỉnh bằng cách nhân giá trị nhân công với 1.286 (thực ra chính bằng 450.000/350.000), máy nhân với 1.05
- Các đợt tăng lương sau đều có hướng dẫn, thường là tăng theo hệ số (lương mới)/(lương cũ). Với tp. HCM thì văn bản mới nhất là 9427/SXD-QLKTXD hướng dẫn với mức lương 2.000.000/1.780.000 năm 2011. Theo đó, ở nội thành (tương ứng với lương 2.000.000đ) thì hệ số NC là 5.714 và M là 1.82
- Lương tối thiểu đã được tăng từ đầu 2013 (nội thành là 2.350.000đ) nhưng tới thời điểm này (tháng 9/2013) vẫn chưa có hướng dẫn. Lý do chính thức là theo NĐ 99 và TT 05 năm 2007, chủ đầu tư tự quyết định, nhà nước không cần can thiệp. Nhiều anh em đồng nghiệp thì cho rằng việc nhân hệ số theo lương tối thiểu là một bất cập, đẩy đơn giá lên cao hơn thị trường thực tế nên Sở Xây dựng không ra hướng dẫn cụ thể.
Ở các tỉnh khác, trước kia mỗi khi tăng lương tối thiểu thì Bộ Xây dựng và các tỉnh đều hướng dẫn các hệ số điều chỉnh tương đối thống nhất. Nhưng mấy năm gần đây, Bộ xây dựng không hướng dẫn nữa (theo tinh thần NĐ 99 và TT 05) nên mỗi tỉnh áp dụng một kiểu. Nhiều tỉnh điều chỉnh giá trị máy thi công bằng cách phân tích nhiên liệu, nhân công điều khiển máy rồi tính bù giá rất rắc rối.
Tóm lại, ở tp. HCM vẫn đang áp dụng hệ số cho mức lương năm 2011, chưa có hướng dẫn cho mức lương 2013. Ở các tỉnh khác, bạn phải tìm hiểu hướng dẫn của tỉnh để áp dụng cho đúng.
Tuy rằng giá thị trường luôn biến động, nhưng việc điều chỉnh thường chỉ dựa vào mức lương tối thiểu do nhà nước quy định.
VD: Với đơn giá Tp. HCM ban hành năm 2006 (công bố lại vào 2008) sử dụng mức lương tối thiểu là 350.000đ/tháng
- Năm 2006, lương tối thiểu tăng lên 450.000đ/tháng, được điều chỉnh bằng cách nhân giá trị nhân công với 1.286 (thực ra chính bằng 450.000/350.000), máy nhân với 1.05
- Các đợt tăng lương sau đều có hướng dẫn, thường là tăng theo hệ số (lương mới)/(lương cũ). Với tp. HCM thì văn bản mới nhất là 9427/SXD-QLKTXD hướng dẫn với mức lương 2.000.000/1.780.000 năm 2011. Theo đó, ở nội thành (tương ứng với lương 2.000.000đ) thì hệ số NC là 5.714 và M là 1.82
- Lương tối thiểu đã được tăng từ đầu 2013 (nội thành là 2.350.000đ) nhưng tới thời điểm này (tháng 9/2013) vẫn chưa có hướng dẫn. Lý do chính thức là theo NĐ 99 và TT 05 năm 2007, chủ đầu tư tự quyết định, nhà nước không cần can thiệp. Nhiều anh em đồng nghiệp thì cho rằng việc nhân hệ số theo lương tối thiểu là một bất cập, đẩy đơn giá lên cao hơn thị trường thực tế nên Sở Xây dựng không ra hướng dẫn cụ thể.
Ở các tỉnh khác, trước kia mỗi khi tăng lương tối thiểu thì Bộ Xây dựng và các tỉnh đều hướng dẫn các hệ số điều chỉnh tương đối thống nhất. Nhưng mấy năm gần đây, Bộ xây dựng không hướng dẫn nữa (theo tinh thần NĐ 99 và TT 05) nên mỗi tỉnh áp dụng một kiểu. Nhiều tỉnh điều chỉnh giá trị máy thi công bằng cách phân tích nhiên liệu, nhân công điều khiển máy rồi tính bù giá rất rắc rối.
Tóm lại, ở tp. HCM vẫn đang áp dụng hệ số cho mức lương năm 2011, chưa có hướng dẫn cho mức lương 2013. Ở các tỉnh khác, bạn phải tìm hiểu hướng dẫn của tỉnh để áp dụng cho đúng.
Bài 19: Giá vật tư thực tế
Giá vật tư thực tế thường do Sở Xây dựng công bố (trước kia do Liên sở Tài chính Vật giá - Xây dựng ban hành).
Tuy nhiên, bảng giá này cũng chỉ có những chủng loại vật tư chính, bạn phải tham khảo thêm các nguồn như:
- Báo giá của nhà cung cấp.
- Chứng thư thẩm định giá.
- Hóa đơn GTGT.
Nói chung, với công trình nhà nước thì bảng giá của Sở XD là cơ sở tốt nhất. Chừng nào không có thì mới được phép sử dụng các nguồn khác (vì thực ra các nguồn đó cũng chẳng có gì đáng tin cậy cả)
Với giá vật tư thực tế, bạn lưu ý 2 điểm như sau:
- Giá là giá trước thuế. Tôi cũng hay lộn giữa trước và sau thuế. Nhiều lần bên thẩm tra gửi trả về lụi hụi làm lại rất mất công.
- Giá là giá tại chân công trình (đã bao gồm cước vận chuyển). Nhiều bảng giá của các tỉnh ghi giá là giá tại nơi bán. Bạn lưu ý để tính thêm cước vận chuyển, nếu không sẽ bị thiếu.
Bạn có thể mua bảng giá này tại Sở Xây dựng (nếu muốn có dấu đỏ) hoặc download trên mạng.
Khi làm dự toán, bạn sẽ phải tính tổng khối lượng vật tư công trình cần sử dụng rồi cập nhật theo đơn giá mới. Vì vậy, bạn sẽ phải:
- Phân tích vật tư: Tính xem mỗi công việc sử dụng hết bao nhiêu vật tư.
- Tổng hợp vật tư và áp đơn giá mới: Cộng dồn lượng vật tư sử dụng của các công việc rồi áp giá.
Tuy nhiên, bảng giá này cũng chỉ có những chủng loại vật tư chính, bạn phải tham khảo thêm các nguồn như:
- Báo giá của nhà cung cấp.
- Chứng thư thẩm định giá.
- Hóa đơn GTGT.
Nói chung, với công trình nhà nước thì bảng giá của Sở XD là cơ sở tốt nhất. Chừng nào không có thì mới được phép sử dụng các nguồn khác (vì thực ra các nguồn đó cũng chẳng có gì đáng tin cậy cả)
Với giá vật tư thực tế, bạn lưu ý 2 điểm như sau:
- Giá là giá trước thuế. Tôi cũng hay lộn giữa trước và sau thuế. Nhiều lần bên thẩm tra gửi trả về lụi hụi làm lại rất mất công.
- Giá là giá tại chân công trình (đã bao gồm cước vận chuyển). Nhiều bảng giá của các tỉnh ghi giá là giá tại nơi bán. Bạn lưu ý để tính thêm cước vận chuyển, nếu không sẽ bị thiếu.
Bạn có thể mua bảng giá này tại Sở Xây dựng (nếu muốn có dấu đỏ) hoặc download trên mạng.
Khi làm dự toán, bạn sẽ phải tính tổng khối lượng vật tư công trình cần sử dụng rồi cập nhật theo đơn giá mới. Vì vậy, bạn sẽ phải:
- Phân tích vật tư: Tính xem mỗi công việc sử dụng hết bao nhiêu vật tư.
- Tổng hợp vật tư và áp đơn giá mới: Cộng dồn lượng vật tư sử dụng của các công việc rồi áp giá.
Bài 18: Đơn giá
Mỗi tỉnh, thành phố sẽ công bố bộ đơn giá áp dụng cho khu vực của mình. Một vài khu vực có bộ đơn giá riêng, chẳng hạn như huyện Côn đảo. Công trình nằm trên địa bàn nào thì áp dụng đơn giá địa bàn đó.
Đơn giá thường do Phòng Kinh tế Xây dựng thuộc Sở Xây dựng tính toán. Nhưng do phải được Viện Kinh tế Xây dựng kiểm tra nên để cho "tiện", thường các Sở thuê Viện KTXD lập, một công đôi việc.
Cách tính đơn giá cũng đơn giản. Chỉ cần áp giá vật liệu, nhân công, máy thi công tại thời điểm lập đơn giá vào định mức sẽ tính được đơn giá. VD:
Sau đó, tập hợp lại để được bộ đơn giá. VD một trang trong bộ đơn giá Quảng Ngãi
Có một điểm tôi đặc biệt lưu ý các bạn: Do cuốn đơn giá tính trên cơ sở giá VL, NC, M tại thời điểm lập đơn giá nên khi giá vật liệu, nhân công, máy thay đổi thì đơn giá sẽ SAI. Vì vậy, phải cập nhật lại bằng cách:
- Với vật liệu: Tính lại theo giá vật liệu thực tế tại thời điểm làm dự toán
- Với nhân công và máy thi công: Nhân hệ số theo hướng dẫn.
Đơn giá thường do Phòng Kinh tế Xây dựng thuộc Sở Xây dựng tính toán. Nhưng do phải được Viện Kinh tế Xây dựng kiểm tra nên để cho "tiện", thường các Sở thuê Viện KTXD lập, một công đôi việc.
Cách tính đơn giá cũng đơn giản. Chỉ cần áp giá vật liệu, nhân công, máy thi công tại thời điểm lập đơn giá vào định mức sẽ tính được đơn giá. VD:
Sau đó, tập hợp lại để được bộ đơn giá. VD một trang trong bộ đơn giá Quảng Ngãi
Có một điểm tôi đặc biệt lưu ý các bạn: Do cuốn đơn giá tính trên cơ sở giá VL, NC, M tại thời điểm lập đơn giá nên khi giá vật liệu, nhân công, máy thay đổi thì đơn giá sẽ SAI. Vì vậy, phải cập nhật lại bằng cách:
- Với vật liệu: Tính lại theo giá vật liệu thực tế tại thời điểm làm dự toán
- Với nhân công và máy thi công: Nhân hệ số theo hướng dẫn.
Bài 17: Định mức
Qua các bài về tính giá thành, các bạn đã biết định mức là gì rồi.
Định mức chẳng qua là mức hao phí về vật liệu, nhân công, máy thi công để thực hiện được một đơn vị công tác nào đó.
Chẳng hạn, để đổ được 1m3 BT (trộn tại công trường), phải dùng hết 350kg XM, 0.9m3 đá 1x2, 0.5m3 cát; 1.6 công lao động, 0.1 ca máy trộn, 0.1 ca máy đầm.
Nhưng bạn nên lưu ý điểm khác biệt giữa cách quản lý kiểu thị trường [tư bản] và kế hoạch [XHCN]
- Kiểu thị trường, định mức đơn giá là do bản thân đơn vị thi công hoặc thuê các đơn vị tư vấn tính toán để họ sử dụng. Như vậy, định mức được cập nhật theo thực tế rất nhanh nhưng do mạnh ai nấy tính và sử dụng nên không thống nhất.
- Kiểu kế hoạch, định mức do nhà nước tính toán và ban hành (nay là công bố), bắt buộc mọi đối tượng tham gia hoạt động xây dựng phải tuân thủ. Điểm hay là mọi người trong ngành xây dựng đều có sẵn dữ liệu để sử dụng, nhưng điểm dở là việc cập nhật phụ thuộc rất nhiều vào bộ máy quản lý (viện kinh tế xây dựng). Thực tế việc cập nhật định mức tương đối chậm (năm 1998 và năm 2005 có cập nhật định mức mới sử dụng cho tới nay) nên có rất nhiều định mức lỗi thời.
Người ta tập hợp nhiều định mức vào thành một bộ định mức. Hiện có khoảng vài chục bộ định mức nhưng chỉ khoảng 5-7 bộ thông dụng và hay sử dụng, còn lại là định mức chuyên ngành.
Các công trình xây dựng dân dụng - công nghiệp - giao thông - thủy lợi hay sử dụng các bộ ĐM:
- Định mức xây dựng công trình phần xây dựng: ĐM 24 - 1776
- Định mức xây dựng công trình phần lắp đặt: ĐM 33 - 1777
Tùy công trình có thể sử dụng các bộ định mức khác như sửa chữa, duy tu cầu đường bộ, cây xanh, chiếu sáng ...
Các bạn tham khảo 1 trang của cuốn định mức 24-1776 (khoảng 600trang)
Cách tra định mức: Lấy mã hiệu ở cột dọc, ghép với mã ở hàng ngang dưới cùng để được mã hiệu hoàn chỉnh của công việc. VD: AF.61412 là mã hiệu của công tác Lắp đặt cốt thép cột, d<=10mm, cao <=16m
Khi sử dụng định mức, các bạn nên lưu ý các quy định áp dụng và thành phần công việc
Theo quy định áp dụng như trên thì phần nối chồng, thép chống (ngựa kê), thép chờ ... chưa tính. Vì vậy, khi thống kê bạn phải tính phần thép này vào.
Tôi đã liệt kê những điểm cần lưu ý khi sử dụng đơn giá định mức, bạn vui lòng tham khảo bài 20
Còn một điểm nữa, với những công tác bê tông (trộn), xây, tô, lát ... để cho gọn, định mức vật liệu chỉ tính ra vữa. Bạn phải sử dụng định mức cấp phối (có luôn trong cuốn định mức) để phân tích ra xi măng, cát ... Rất may là các phần mềm dự toán đều đã phân tích ra xi măng, cát ... sẵn. Tôi chỉ nêu vấn đề ở đây để bạn biết nếu lúc nào cần sử dụng đến đơn giá định mức.
Định mức chẳng qua là mức hao phí về vật liệu, nhân công, máy thi công để thực hiện được một đơn vị công tác nào đó.
Chẳng hạn, để đổ được 1m3 BT (trộn tại công trường), phải dùng hết 350kg XM, 0.9m3 đá 1x2, 0.5m3 cát; 1.6 công lao động, 0.1 ca máy trộn, 0.1 ca máy đầm.
Nhưng bạn nên lưu ý điểm khác biệt giữa cách quản lý kiểu thị trường [tư bản] và kế hoạch [XHCN]
- Kiểu thị trường, định mức đơn giá là do bản thân đơn vị thi công hoặc thuê các đơn vị tư vấn tính toán để họ sử dụng. Như vậy, định mức được cập nhật theo thực tế rất nhanh nhưng do mạnh ai nấy tính và sử dụng nên không thống nhất.
- Kiểu kế hoạch, định mức do nhà nước tính toán và ban hành (nay là công bố), bắt buộc mọi đối tượng tham gia hoạt động xây dựng phải tuân thủ. Điểm hay là mọi người trong ngành xây dựng đều có sẵn dữ liệu để sử dụng, nhưng điểm dở là việc cập nhật phụ thuộc rất nhiều vào bộ máy quản lý (viện kinh tế xây dựng). Thực tế việc cập nhật định mức tương đối chậm (năm 1998 và năm 2005 có cập nhật định mức mới sử dụng cho tới nay) nên có rất nhiều định mức lỗi thời.
Người ta tập hợp nhiều định mức vào thành một bộ định mức. Hiện có khoảng vài chục bộ định mức nhưng chỉ khoảng 5-7 bộ thông dụng và hay sử dụng, còn lại là định mức chuyên ngành.
Các công trình xây dựng dân dụng - công nghiệp - giao thông - thủy lợi hay sử dụng các bộ ĐM:
- Định mức xây dựng công trình phần xây dựng: ĐM 24 - 1776
- Định mức xây dựng công trình phần lắp đặt: ĐM 33 - 1777
Tùy công trình có thể sử dụng các bộ định mức khác như sửa chữa, duy tu cầu đường bộ, cây xanh, chiếu sáng ...
Các bạn tham khảo 1 trang của cuốn định mức 24-1776 (khoảng 600trang)
Cách tra định mức: Lấy mã hiệu ở cột dọc, ghép với mã ở hàng ngang dưới cùng để được mã hiệu hoàn chỉnh của công việc. VD: AF.61412 là mã hiệu của công tác Lắp đặt cốt thép cột, d<=10mm, cao <=16m
Khi sử dụng định mức, các bạn nên lưu ý các quy định áp dụng và thành phần công việc
Theo quy định áp dụng như trên thì phần nối chồng, thép chống (ngựa kê), thép chờ ... chưa tính. Vì vậy, khi thống kê bạn phải tính phần thép này vào.
Tôi đã liệt kê những điểm cần lưu ý khi sử dụng đơn giá định mức, bạn vui lòng tham khảo bài 20
Còn một điểm nữa, với những công tác bê tông (trộn), xây, tô, lát ... để cho gọn, định mức vật liệu chỉ tính ra vữa. Bạn phải sử dụng định mức cấp phối (có luôn trong cuốn định mức) để phân tích ra xi măng, cát ... Rất may là các phần mềm dự toán đều đã phân tích ra xi măng, cát ... sẵn. Tôi chỉ nêu vấn đề ở đây để bạn biết nếu lúc nào cần sử dụng đến đơn giá định mức.
Thứ Tư, 4 tháng 9, 2013
Bài 16: Cách quản lý của nhà nước trong dự toán
OK, vậy là bạn đã tính được giá thành và báo giá thực tế.
Giờ chúng ta sẽ sang phần dự toán kiểu nhà nước.
Nếu bạn làm trong khối tư nhân và nước ngoài, khuyên bạn chỉ nên liếc qua đủ để biết và buông một câu: "Có thế thôi mà làm đ'o gì rắc rối thế"
Ô, thế mới là đỉnh cao trí tuệ chứ!
Nhắc lại bài 3 một chút:
- Năm 2007, nhà nước đã ra NĐ 99 và TT 05, quy định rằng nhà nước không còn quản lý định mức và đơn giá như trước nữa. Tất cả định mức đơn giá đã ban hành đều bị bãi bỏ, và công bố các ĐMĐG thay thế (thực chất ruột vẫn vậy).
- Nhưng trong thực tế, không dựa vào định mức đơn giá thì biết dựa vào đâu? Nên dự toán nhà nước vẫn làm y chang như trước mà không có thay đổi gì.
Hiện tại, văn bản chính hướng dẫn việc quản lý chi phí xây dựng là thông tư 04/2010/TT-BXD của Bộ Xây dựng, hướng dẫn thi hành nghị định 112/2009/NĐ-CP.
Bạn nên đọc kỹ 2 văn bản này để áp dụng cho đúng. Riêng phần tôi, thú thật tôi cũng chỉ lướt qua những phần cần thiết, vì càng đọc càng rối, càng thấy hình như cách mình tính bây giờ là ... sai.
Tuy nhiên, đúng sai gì tôi cũng hướng dẫn các bạn cách làm hiện nay, vì mọi người đều làm thế cả.
Nhà nước quản lý chi phí xây dựng qua các công cụ:
- Các bộ định mức dự toán: Đây chính là quy định của nhà nước về các hao phí vật liệu, nhân công, máy thi công như đã đề cập ở phần giá thành. Khác ở chỗ lúc trước bạn tự tính, giờ nhà nước quy định. Định mức do Bộ Xây dựng công bố và sử dụng trên toàn quốc
- Các bộ đơn giá XDCB khu vực: Mỗi tỉnh, thành phố sẽ tính và công bố bộ đơn giá trên địa bàn tỉnh mình. Đơn giá sẽ được tính bằng cách lấy định mức nhân với giá vật liệu, nhân công, máy tại thời điểm làm cuốn đơn giá.
- Các bảng giá vật tư thực tế: Giá vật tư luôn thay đổi theo thị trường nên đơn giá không còn đúng, ngay cả khi vừa ra khỏi nhà in. Vì vậy, phải cập nhật giá vật tư theo thực tế. Các bảng giá này do Sở Xây dựng công bố.
- Các văn bản điều chỉnh nhân công và máy thi công: Tương tự vật tư, nhân công và máy cũng thay đổi (thường là tăng). Vì vậy, nhà nước phải ra các văn bản, thường là cho lấy nhân công và máy thi công trong đơn giá nhân với hệ số.
- Các văn bản khác liên quan: Có rất nhiều thứ liên quan, và mỗi địa phương đều có quyền ra các văn bản can thiệp vào cách tính toán. Vì vậy nên nhìn tưởng như có sự thống nhất (đều do Bộ Xây dựng quản lý) nhưng thực ra rối như gói thuốc lào. Một số văn bản hay sử dụng là định mức tư vấn và QLDA (957/QĐ-BXD do Bộ Xây dựng công bố), NĐ 85 hướng dẫn luật đấu thầu, Nghị định 15/2013 về quản lý chất lượng công trình xây dựng ...
Giờ chúng ta sẽ sang phần dự toán kiểu nhà nước.
Nếu bạn làm trong khối tư nhân và nước ngoài, khuyên bạn chỉ nên liếc qua đủ để biết và buông một câu: "Có thế thôi mà làm đ'o gì rắc rối thế"
Ô, thế mới là đỉnh cao trí tuệ chứ!
Nhắc lại bài 3 một chút:
- Năm 2007, nhà nước đã ra NĐ 99 và TT 05, quy định rằng nhà nước không còn quản lý định mức và đơn giá như trước nữa. Tất cả định mức đơn giá đã ban hành đều bị bãi bỏ, và công bố các ĐMĐG thay thế (thực chất ruột vẫn vậy).
- Nhưng trong thực tế, không dựa vào định mức đơn giá thì biết dựa vào đâu? Nên dự toán nhà nước vẫn làm y chang như trước mà không có thay đổi gì.
Hiện tại, văn bản chính hướng dẫn việc quản lý chi phí xây dựng là thông tư 04/2010/TT-BXD của Bộ Xây dựng, hướng dẫn thi hành nghị định 112/2009/NĐ-CP.
Bạn nên đọc kỹ 2 văn bản này để áp dụng cho đúng. Riêng phần tôi, thú thật tôi cũng chỉ lướt qua những phần cần thiết, vì càng đọc càng rối, càng thấy hình như cách mình tính bây giờ là ... sai.
Tuy nhiên, đúng sai gì tôi cũng hướng dẫn các bạn cách làm hiện nay, vì mọi người đều làm thế cả.
Nhà nước quản lý chi phí xây dựng qua các công cụ:
- Các bộ định mức dự toán: Đây chính là quy định của nhà nước về các hao phí vật liệu, nhân công, máy thi công như đã đề cập ở phần giá thành. Khác ở chỗ lúc trước bạn tự tính, giờ nhà nước quy định. Định mức do Bộ Xây dựng công bố và sử dụng trên toàn quốc
- Các bộ đơn giá XDCB khu vực: Mỗi tỉnh, thành phố sẽ tính và công bố bộ đơn giá trên địa bàn tỉnh mình. Đơn giá sẽ được tính bằng cách lấy định mức nhân với giá vật liệu, nhân công, máy tại thời điểm làm cuốn đơn giá.
- Các bảng giá vật tư thực tế: Giá vật tư luôn thay đổi theo thị trường nên đơn giá không còn đúng, ngay cả khi vừa ra khỏi nhà in. Vì vậy, phải cập nhật giá vật tư theo thực tế. Các bảng giá này do Sở Xây dựng công bố.
- Các văn bản điều chỉnh nhân công và máy thi công: Tương tự vật tư, nhân công và máy cũng thay đổi (thường là tăng). Vì vậy, nhà nước phải ra các văn bản, thường là cho lấy nhân công và máy thi công trong đơn giá nhân với hệ số.
- Các văn bản khác liên quan: Có rất nhiều thứ liên quan, và mỗi địa phương đều có quyền ra các văn bản can thiệp vào cách tính toán. Vì vậy nên nhìn tưởng như có sự thống nhất (đều do Bộ Xây dựng quản lý) nhưng thực ra rối như gói thuốc lào. Một số văn bản hay sử dụng là định mức tư vấn và QLDA (957/QĐ-BXD do Bộ Xây dựng công bố), NĐ 85 hướng dẫn luật đấu thầu, Nghị định 15/2013 về quản lý chất lượng công trình xây dựng ...
Bài 15: Phần mềm dự toán giá thành
Người ta có thể làm bằng Excel (tạo từng công thức) hoặc tận dụng phần mềm dự toán (nhà nước) rồi chỉnh sửa số liệu để thành dự toán giá thành. Nhưng các cách này lâu và dễ sai sót.
Ở đây, tôi giới thiệu với các bạn maxPRO, một phần mềm chuyên dụng tính giá thành và lợi nhuận công trình. Ở trong phần mềm đã có sẵn định mức thi công và được lập trình sẵn để tính giá thành nên các bạn có thể làm dự toán giá thành rất nhanh.
B1: Bạn copy hoặc nhập công việc, khối lượng. maxPRO vẫn mượn mã hiệu định mức nhà nước để nếu bạn có dự toán nhà nước thì chỉ cần copy vào là xong.
Nếu công việc nào khoán, bạn nhập vào giá khoán. Nếu không bấm F9 để phần mềm lấy định mức và tính sang bảng phân tích đơn giá.
Bạn lưu ý, định mức và đơn giá đều là ĐMĐG thực tế.
Trong các bài học trước, tôi chỉ phân chi phí làm 2 loại là chuẩn bị và quản lý. Nhưng trong phần mềm này phân chia chi tiết hơn thành 5 loại chi phí. Các chi phí này đều là (dự trù) chi phí thực tế. Sau khi tính được tổng sẽ phân bổ cho các công việc theo tỷ lệ %
Sau khi tính được đơn giá, PM sẽ đưa vào bảng dự toán để tính dự toán giá thành (bảng đầu tiên).
Ở đây, tôi giới thiệu với các bạn maxPRO, một phần mềm chuyên dụng tính giá thành và lợi nhuận công trình. Ở trong phần mềm đã có sẵn định mức thi công và được lập trình sẵn để tính giá thành nên các bạn có thể làm dự toán giá thành rất nhanh.
B1: Bạn copy hoặc nhập công việc, khối lượng. maxPRO vẫn mượn mã hiệu định mức nhà nước để nếu bạn có dự toán nhà nước thì chỉ cần copy vào là xong.
Nếu công việc nào khoán, bạn nhập vào giá khoán. Nếu không bấm F9 để phần mềm lấy định mức và tính sang bảng phân tích đơn giá.
Bạn lưu ý, định mức và đơn giá đều là ĐMĐG thực tế.
Trong các bài học trước, tôi chỉ phân chi phí làm 2 loại là chuẩn bị và quản lý. Nhưng trong phần mềm này phân chia chi tiết hơn thành 5 loại chi phí. Các chi phí này đều là (dự trù) chi phí thực tế. Sau khi tính được tổng sẽ phân bổ cho các công việc theo tỷ lệ %
Sau khi tính được đơn giá, PM sẽ đưa vào bảng dự toán để tính dự toán giá thành (bảng đầu tiên).
Bài 14: Chi phí quản lý là gì? Cách tính như thế nào
Nói thật, mấy cái này kế toán rành hơn tôi. Bạn có thể hỏi kế toán và nhờ họ liệt kê các khoản chi phí để tính cho sát (nhưng nếu bạn là nhân viên mới thì có nhiều khoản chi ABC gì đó bạn sẽ không được biết đâu)
Bảng này tôi liệt kê những chi phí phổ biến, bạn tham khảo để tính toán.
Bảng này tôi liệt kê những chi phí phổ biến, bạn tham khảo để tính toán.
Bài 13: Chi phí chuẩn bị là gì? Cách tính như thế nào?
Các công trình nhà nước thường áp dụng một tỷ lệ cứng nhắc cho các chi phí gián tiếp, ví dụ lán trại là 1%, chi phí chung (quản lý) là 6.5% và thu nhập chịu thuế tính trước (lợi nhuận) là 5.5% [với công trình dân dụng, loại công trình khác thì tỷ lệ sẽ khác]
Việc này sẽ dẫn đến tình trạng là công việc có giá trị vật tư cao thì các chi phí gián tiếp này cao ngất. Chẳng hạn cùng là lắp bồn cầu, nhưng lắp loại 2tr thì CPGT chỉ vài trăm ngàn, nhưng lắp loại 20tr thì CPGT là vài triệu mà tính chất công việc không khác nhau nhiều.
Các công ty tư nhân thường tách chi phí chuẩn bị ra thành bảng riêng. Việc này sẽ giúp bảng tính toán sát với thực tế nhất. Đồng thời, CĐT cũng dễ dàng kiểm soát được công việc của nhà thầu.
VD: Trong chi phí chuẩn bị, có tính máy phát điện. Nhưng nhà thầu không thực hiện thì CĐT có quyền cắt chi phí này hoặc việc không trang bị máy phát điện làm ảnh hưởng tới tiến độ hoặc chất lượng công trình thì nhà thầu sẽ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm ...
Mỗi dạng công trình, mỗi chủ đầu tư sẽ có những bảng tính CPCB khác nhau. Bạn có thể tham khảo ví dụ sau để áp dụng
Lưu ý: Bạn tính bảng này, rồi phân bổ vào đơn giá từng công việc như VD ở bài 12, nhưng bạn cũng có thể không tính chi phí chuẩn bị này ở mỗi công việc mà tính ở bảng riêng.
Hiện nay một số công ty xây dựng lớn như An Phong, CotecCons, Hòa Bình đều tách chi phí chuẩn bị và tính trong bảng riêng.
Việc này sẽ dẫn đến tình trạng là công việc có giá trị vật tư cao thì các chi phí gián tiếp này cao ngất. Chẳng hạn cùng là lắp bồn cầu, nhưng lắp loại 2tr thì CPGT chỉ vài trăm ngàn, nhưng lắp loại 20tr thì CPGT là vài triệu mà tính chất công việc không khác nhau nhiều.
Các công ty tư nhân thường tách chi phí chuẩn bị ra thành bảng riêng. Việc này sẽ giúp bảng tính toán sát với thực tế nhất. Đồng thời, CĐT cũng dễ dàng kiểm soát được công việc của nhà thầu.
VD: Trong chi phí chuẩn bị, có tính máy phát điện. Nhưng nhà thầu không thực hiện thì CĐT có quyền cắt chi phí này hoặc việc không trang bị máy phát điện làm ảnh hưởng tới tiến độ hoặc chất lượng công trình thì nhà thầu sẽ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm ...
Mỗi dạng công trình, mỗi chủ đầu tư sẽ có những bảng tính CPCB khác nhau. Bạn có thể tham khảo ví dụ sau để áp dụng
Lưu ý: Bạn tính bảng này, rồi phân bổ vào đơn giá từng công việc như VD ở bài 12, nhưng bạn cũng có thể không tính chi phí chuẩn bị này ở mỗi công việc mà tính ở bảng riêng.
Hiện nay một số công ty xây dựng lớn như An Phong, CotecCons, Hòa Bình đều tách chi phí chuẩn bị và tính trong bảng riêng.
Bài 12: Thấy mông lung quá thày? Thày cho ví dụ được không?
Chúng ta làm với công việc đóng cừ tràm cho dễ hiểu nhé:
a. Vật liệu:
+ Mua cừ: 20.000đ/cây
+ Hao hụt (chặt, gẫy ...) 5%: 1.000đ
+ Vật tư phụ (giáo, ván, dây ...) 5%: 1.000đ
b. Nhân công: Khảo sát giá bên ngoài họ nhận đóng: 10.000đ/cây (họ phải mang vồ đóng, rìu chặt và những dụng cụ cầm tay khác)
c. Máy: Không
Cộng chi phí trực tiếp: 32.000đ/cây
d. Chi phí chuẩn bị: Bạn tính ở bảng khác rồi phân bổ, ví dụ là 5%: 1.600đ/cây
e. Chi phí quản lý: Cũng tính ở bảng khác rồi phân bổ, ví dụ là 10%: 3.200đ/cây
Giá thành: 36.800đ/cây
Lợi nhuận: Tùy bạn cân nhắc, ví dụ lấy là 10%: 3.680đ/cây
Như vậy, tổng đơn giá: 40.480đ/cây
Lưu ý, khi bạn đấu thầu công trình tư nhân hoặc nước ngoài, ít khi họ yêu cầu giải trình tính toán đơn giá. Việc tính toán này chỉ để bạn biết và kiểm soát chi phí - lợi nhuận mà thôi.Bạn hoàn toàn có thể tăng giảm giá trị này. Chẳng hạn, có thể tính 40.000đ/cây cho chẵn.
Ghi chú: Thường công trình nhà nước thì tính thuế VAT vào đơn giá. Công trình tư nhân và nước ngoài hay tính đơn giá trước thuế, sau khi cộng tổng rồi mới tính thêm VAT.
Thường người ta dùng Excel hoặc sử dụng phần mềm và lập bảng tính cho nhiều đơn giá.
a. Vật liệu:
+ Mua cừ: 20.000đ/cây
+ Hao hụt (chặt, gẫy ...) 5%: 1.000đ
+ Vật tư phụ (giáo, ván, dây ...) 5%: 1.000đ
b. Nhân công: Khảo sát giá bên ngoài họ nhận đóng: 10.000đ/cây (họ phải mang vồ đóng, rìu chặt và những dụng cụ cầm tay khác)
c. Máy: Không
Cộng chi phí trực tiếp: 32.000đ/cây
d. Chi phí chuẩn bị: Bạn tính ở bảng khác rồi phân bổ, ví dụ là 5%: 1.600đ/cây
e. Chi phí quản lý: Cũng tính ở bảng khác rồi phân bổ, ví dụ là 10%: 3.200đ/cây
Giá thành: 36.800đ/cây
Lợi nhuận: Tùy bạn cân nhắc, ví dụ lấy là 10%: 3.680đ/cây
Như vậy, tổng đơn giá: 40.480đ/cây
Lưu ý, khi bạn đấu thầu công trình tư nhân hoặc nước ngoài, ít khi họ yêu cầu giải trình tính toán đơn giá. Việc tính toán này chỉ để bạn biết và kiểm soát chi phí - lợi nhuận mà thôi.Bạn hoàn toàn có thể tăng giảm giá trị này. Chẳng hạn, có thể tính 40.000đ/cây cho chẵn.
Ghi chú: Thường công trình nhà nước thì tính thuế VAT vào đơn giá. Công trình tư nhân và nước ngoài hay tính đơn giá trước thuế, sau khi cộng tổng rồi mới tính thêm VAT.
Thường người ta dùng Excel hoặc sử dụng phần mềm và lập bảng tính cho nhiều đơn giá.
Bài 11: Đơn giá lấy ở đâu vậy thày? Làm sao biết giá đó làm có lời? Làm sao biết giá đó có quá cao không?
Biết ngay là sẽ hỏi câu đó mà. Câu trả lời là: KINH NGHIỆM. Và để có kinh nghiệm, các bạn sẽ phải trả giá nhiều.
Nhưng tôi sẽ chỉ cho các bạn cách tính toán để việc trả giá ít đi. Nhớ mời tôi bia nhé?
Đầu tiên, các bạn sẽ phải tính được giá thành công việc. Thành phần hao phí của các công việc là:
a. Vật liệu: Bạn sẽ phải sử dụng kinh nghiệm (lại kinh nghiệm!) để xác định hao phí vật tư cho công việc. Nếu chưa biết, có thể tham khảo những người có kinh nghiệm hoặc sử dụng định mức nhà nước (nói chung sử dụng định mức nhà nước thì phải điều chỉnh nhiều vì định mức nhà nước được lập từ lâu, theo tiêu chuẩn Liên xô và ít+chậm được thay đổi)
VD: Xây tường gạch ống dày 10cm VXM M75 sẽ phải sử dụng (1m2):
+ 70 viên gạch
+ 8 kg xi măng
+ 0.03 m3 cát
(Lưu ý, định mức này tôi dựa theo định mức nhà nước nhưng tăng lên nhiều theo thực tế)
b. Nhân công: Theo kinh nghiệm hoặc đơn giá khoán. VD: Đơn giá khoán hiện nay trên thị trường (tp. HCM) khoảng 45.000đ/m2, tương đương với 0.2 công/m2
c. Máy thi công: Tương tự, tính hao phí máy cho mỗi đơn vị khối lượng. Tuy nhiên, trong thực tế, việc tính toán chi li ca máy cho mỗi đơn vị cũng tương đối khó khăn, ví dụ khi đưa máy tới nhưng vướng mặt bằng thi công được một hai ngày rồi ngưng, để máy đó ... Vì vậy, nhiều loại máy không tính theo định mức cho từng công việc mà lập bảng cho cả công trình sau đó phân bổ vào công việc theo tỷ lệ %.
d. Chi phí chuẩn bị thi công: Cổng hàng rào, văn phòng, điện nước, đồng phục ... Sẽ tính cho toàn bộ công trình và phân bổ theo tỷ lệ %
e. Chi phí quản lý: Lương cán bộ công trường, phân bổ chi phí quản lý công ty, văn phòng phẩm, chi phí tài chính, tiếp thị ... Cũng tính cho toàn công trường và phân bổ theo tỷ lệ %
Cộng tổng các chi phí trên sẽ được giá thành công việc.
Sau đó bạn tính thêm lợi nhuận để được giá dự thầu.
Vậy lợi nhuận tính như thế nào là hợp lý? Câu trả lời là không có con số nào là hợp lý cả mà hoàn toàn phụ thuộc vào thị trường, cạnh tranh ...
Chẳng hạn, công ty bạn đang có nhiều công trình và có dấu hiệu hơi vượt quá năng lực đáp ứng về nhân lực, tài chính ... thì có thể bạn tính lợi nhuận cao. Trúng thì lời nhiều, trượt thì cũng không sao.
Nhưng nếu công ty đang dần bàn giao các công trình và chưa có công trình gối đầu, có thể bạn phải chấp nhận một tỷ suất lợi nhuận thấp để lấy công trình nuôi lính. (nhiều khi phải chấp nhận lợi nhuận là 0%)
Nhưng tôi sẽ chỉ cho các bạn cách tính toán để việc trả giá ít đi. Nhớ mời tôi bia nhé?
Đầu tiên, các bạn sẽ phải tính được giá thành công việc. Thành phần hao phí của các công việc là:
a. Vật liệu: Bạn sẽ phải sử dụng kinh nghiệm (lại kinh nghiệm!) để xác định hao phí vật tư cho công việc. Nếu chưa biết, có thể tham khảo những người có kinh nghiệm hoặc sử dụng định mức nhà nước (nói chung sử dụng định mức nhà nước thì phải điều chỉnh nhiều vì định mức nhà nước được lập từ lâu, theo tiêu chuẩn Liên xô và ít+chậm được thay đổi)
VD: Xây tường gạch ống dày 10cm VXM M75 sẽ phải sử dụng (1m2):
+ 70 viên gạch
+ 8 kg xi măng
+ 0.03 m3 cát
(Lưu ý, định mức này tôi dựa theo định mức nhà nước nhưng tăng lên nhiều theo thực tế)
b. Nhân công: Theo kinh nghiệm hoặc đơn giá khoán. VD: Đơn giá khoán hiện nay trên thị trường (tp. HCM) khoảng 45.000đ/m2, tương đương với 0.2 công/m2
c. Máy thi công: Tương tự, tính hao phí máy cho mỗi đơn vị khối lượng. Tuy nhiên, trong thực tế, việc tính toán chi li ca máy cho mỗi đơn vị cũng tương đối khó khăn, ví dụ khi đưa máy tới nhưng vướng mặt bằng thi công được một hai ngày rồi ngưng, để máy đó ... Vì vậy, nhiều loại máy không tính theo định mức cho từng công việc mà lập bảng cho cả công trình sau đó phân bổ vào công việc theo tỷ lệ %.
d. Chi phí chuẩn bị thi công: Cổng hàng rào, văn phòng, điện nước, đồng phục ... Sẽ tính cho toàn bộ công trình và phân bổ theo tỷ lệ %
e. Chi phí quản lý: Lương cán bộ công trường, phân bổ chi phí quản lý công ty, văn phòng phẩm, chi phí tài chính, tiếp thị ... Cũng tính cho toàn công trường và phân bổ theo tỷ lệ %
Cộng tổng các chi phí trên sẽ được giá thành công việc.
Sau đó bạn tính thêm lợi nhuận để được giá dự thầu.
Vậy lợi nhuận tính như thế nào là hợp lý? Câu trả lời là không có con số nào là hợp lý cả mà hoàn toàn phụ thuộc vào thị trường, cạnh tranh ...
Chẳng hạn, công ty bạn đang có nhiều công trình và có dấu hiệu hơi vượt quá năng lực đáp ứng về nhân lực, tài chính ... thì có thể bạn tính lợi nhuận cao. Trúng thì lời nhiều, trượt thì cũng không sao.
Nhưng nếu công ty đang dần bàn giao các công trình và chưa có công trình gối đầu, có thể bạn phải chấp nhận một tỷ suất lợi nhuận thấp để lấy công trình nuôi lính. (nhiều khi phải chấp nhận lợi nhuận là 0%)
Thứ Ba, 3 tháng 9, 2013
Bài 10: Áp giá
Vậy là bạn đã tính được khối lượng. Xin chúc mừng. Nhưng đoạn đường phía trước vẫn còn dài lắm.
Bây giờ chúng ta sẽ áp giá.
1. Nếu bạn làm dự toán tư nhân hoặc nước ngoài, hãy áp giá thực tế. Tuyệt đối không được áp giá theo kiểu nhà nước, có thể bạn sẽ rớt từ vòng gửi xe vì dự toán nhà nước vô cùng lằng nhằng và rắc rối, họ sẽ không đủ thời gian để tìm hiểu đâu.
Ngoài ra, bạn có thể cân nhắc gộp những công việc liên quan lại cho dự toán ngắn gọn và dễ theo dõi hơn.
Vẫn ví dụ móng, tôi làm theo kiểu dự toán báo giá theo đơn giá thực tế.
Kinh nghiệm khi báo giá các công trình tư nhân hoặc nước ngoài, càng ngắn gọn và dễ hiểu càng dễ trúng thầu. Ngược lại, công trình nhà nước thì phải in thật hoành tráng, nhiều bảng biểu, cataloge ... thì mới là ngon (nhưng thực ra bên trong chẳng có gì)
2. Nếu bạn làm công trình có yếu tố nhà nước, sẽ phải áp giá theo đơn giá nhà nước và gồm các bảng biểu:
- Bảng dự toán chi tiết (áp đơn giá tỉnh hoặc thành phố nơi đặt công trình)
- Bảng phân tích vật tư (phân tích theo định mức nhà nước)
- Bảng tổng hợp vật tư (áp giá theo đơn giá vật tư thực tế)
- Bảng tổng hợp dự toán (tổng VL, NC, M và tính thêm CPC, TNCTTT, VAT, lán trại)
- Bảng tổng dự toán (tổng các hạng mục, tính thêm CP thiết bị, CP quản lý và tư vấn, CP dự phòng)
Chi tiết vui lòng xem từ bài 16
Bây giờ chúng ta sẽ áp giá.
1. Nếu bạn làm dự toán tư nhân hoặc nước ngoài, hãy áp giá thực tế. Tuyệt đối không được áp giá theo kiểu nhà nước, có thể bạn sẽ rớt từ vòng gửi xe vì dự toán nhà nước vô cùng lằng nhằng và rắc rối, họ sẽ không đủ thời gian để tìm hiểu đâu.
Ngoài ra, bạn có thể cân nhắc gộp những công việc liên quan lại cho dự toán ngắn gọn và dễ theo dõi hơn.
Vẫn ví dụ móng, tôi làm theo kiểu dự toán báo giá theo đơn giá thực tế.
Kinh nghiệm khi báo giá các công trình tư nhân hoặc nước ngoài, càng ngắn gọn và dễ hiểu càng dễ trúng thầu. Ngược lại, công trình nhà nước thì phải in thật hoành tráng, nhiều bảng biểu, cataloge ... thì mới là ngon (nhưng thực ra bên trong chẳng có gì)
2. Nếu bạn làm công trình có yếu tố nhà nước, sẽ phải áp giá theo đơn giá nhà nước và gồm các bảng biểu:
- Bảng dự toán chi tiết (áp đơn giá tỉnh hoặc thành phố nơi đặt công trình)
- Bảng phân tích vật tư (phân tích theo định mức nhà nước)
- Bảng tổng hợp vật tư (áp giá theo đơn giá vật tư thực tế)
- Bảng tổng hợp dự toán (tổng VL, NC, M và tính thêm CPC, TNCTTT, VAT, lán trại)
- Bảng tổng dự toán (tổng các hạng mục, tính thêm CP thiết bị, CP quản lý và tư vấn, CP dự phòng)
Chi tiết vui lòng xem từ bài 16
Bài 9: Bài giải
Lười định gõ nhưng cuối cùng vẫn phải viết tay cho thật hơn. Nắn nót mãi. Dễ phải hơn chục năm
gõ phím chứ không viết gì bằng bút rồi.
Bạn để ý ở phần 5 (tính khối lượng), tôi chỉ bóc tách kích thước từ bản vẽ thôi. Vì trong phần mềm đã có chức năng tính khối lượng và chỉ cần nhập kích thước mà thôi.
Ngoài ra, tôi chỉ ghi kích thước chi tiết cho công việc đào đất. Các công việc sau sử dụng lại các kích thước trên, và trong Excel thì chỉ cần link công thức là xong (đó là một lợi thế rất lớn của phần mềm Excellent! chạy trực tiếp trong Excel của chúng tôi).
Ở bảng này, tôi làm quen rồi nên chỉ ghi vắn tắt đủ để hiểu. VD: BT cổ cột, mỗi móng có 1 cột, cao 1.1m và kích thước là 0.3x0.3 nên tôi ghi như trên cho ngắn gọn.
Bảng tính khối lượng sau khi đã nhập vào máy. Chúng tôi đã xóa kết quả, bạn có thể tự tính lại nếu muốn.
Các bạn cũng lưu ý là chúng tôi tận dụng tối đa khả năng link công thức của excel. Ở công thức tính ván khuôn, tôi link công thức tới kích thước móng, rồi kích thước móng lại link với các ô ở trên nữa. Nếu kích thước móng thay đổi, bạn chỉ cần đổi ở ô trên cùng, tất cả các con số khác sẽ nhảy theo.
gõ phím chứ không viết gì bằng bút rồi.
Bạn để ý ở phần 5 (tính khối lượng), tôi chỉ bóc tách kích thước từ bản vẽ thôi. Vì trong phần mềm đã có chức năng tính khối lượng và chỉ cần nhập kích thước mà thôi.
Ngoài ra, tôi chỉ ghi kích thước chi tiết cho công việc đào đất. Các công việc sau sử dụng lại các kích thước trên, và trong Excel thì chỉ cần link công thức là xong (đó là một lợi thế rất lớn của phần mềm Excellent! chạy trực tiếp trong Excel của chúng tôi).
Ở bảng này, tôi làm quen rồi nên chỉ ghi vắn tắt đủ để hiểu. VD: BT cổ cột, mỗi móng có 1 cột, cao 1.1m và kích thước là 0.3x0.3 nên tôi ghi như trên cho ngắn gọn.
Bảng tính khối lượng sau khi đã nhập vào máy. Chúng tôi đã xóa kết quả, bạn có thể tự tính lại nếu muốn.
Các bạn cũng lưu ý là chúng tôi tận dụng tối đa khả năng link công thức của excel. Ở công thức tính ván khuôn, tôi link công thức tới kích thước móng, rồi kích thước móng lại link với các ô ở trên nữa. Nếu kích thước móng thay đổi, bạn chỉ cần đổi ở ô trên cùng, tất cả các con số khác sẽ nhảy theo.
Bài 8: Trăm nghe không bằng một thấy/Trăm thấy không bằng một ... sờ
Lý thuyết bao nhiêu cũng không bằng làm thực tế. Bạn làm ví dụ sau, và qua ví dụ này, bạn có thể hiểu thêm được cụ thể cách tính toán.
Tính khối lượng dự toán hệ thống móng như sau.
Mặt bằng:
chi tiết
Bạn có thể download file bản vẽ này tại http://dutoan.com/files/BV-mong.zip
Hướng dẫn:
Bạn hãy làm từng bước như sau:
1. Đọc bản vẽ: Thực ra với công trình nhỏ xíu này thì bạn lướt qua là nhớ. Nhưng bạn nên tập làm theo bài bản để sau gặp những công trình lớn bạn sẽ làm nhanh hơn.
Ở bước này, bạn đọc để hiểu các thông số bản vẽ, ghi chú những điểm cần lưu ý để lúc tính khối lượng cho nhanh và chính xác.
2. Tìm hiểu các sai sót: Các thiết kế lớn thường có sự kết hợp rất nhiều bộ phận nên sai sót gần như không tránh khỏi. Chúng ta phải tìm hiểu để điều chỉnh các sai sót đó nếu không dự toán sẽ sai.
Trong ví dụ này, tôi cố tình đưa vào một vài sai sót, ví dụ như kích thước móng M1, chi tiết thép, cổ cột, cốt đất tự nhiên ... bạn phải tìm hiểu và ghi chú để tính cho đúng.
3. Tìm hiểu về trình tự thi công và biện pháp tổ chức thi công có ảnh hưởng tới khối lượng. Với những công trình lớn thì biện pháp thi công sẽ ảnh hưởng nhiều tới khối lượng và giá. Với công trình này thì có lẽ chỉ lưu ý là phải đào đất thì mới làm được móng (liệu có ai quên tính khối lượng đào đất không nhỉ)
4. Lập danh sách công việc: Bạn sẽ liệt kê các công việc cần làm. Thường tôi lập theo trình tự thi công (làm cái gì tính tiền cái đó) là dễ kiểm soát và đỡ sai sót nhất.
Danh sách công việc bạn xem ở file bài giải.
5. Tính khối lượng: Bạn áp dụng công thức tính diện tích và thể tích. Khối lượng xem ở file bài giải.
Tính khối lượng dự toán hệ thống móng như sau.
Mặt bằng:
chi tiết
Bạn có thể download file bản vẽ này tại http://dutoan.com/files/BV-mong.zip
Hướng dẫn:
Bạn hãy làm từng bước như sau:
1. Đọc bản vẽ: Thực ra với công trình nhỏ xíu này thì bạn lướt qua là nhớ. Nhưng bạn nên tập làm theo bài bản để sau gặp những công trình lớn bạn sẽ làm nhanh hơn.
Ở bước này, bạn đọc để hiểu các thông số bản vẽ, ghi chú những điểm cần lưu ý để lúc tính khối lượng cho nhanh và chính xác.
2. Tìm hiểu các sai sót: Các thiết kế lớn thường có sự kết hợp rất nhiều bộ phận nên sai sót gần như không tránh khỏi. Chúng ta phải tìm hiểu để điều chỉnh các sai sót đó nếu không dự toán sẽ sai.
Trong ví dụ này, tôi cố tình đưa vào một vài sai sót, ví dụ như kích thước móng M1, chi tiết thép, cổ cột, cốt đất tự nhiên ... bạn phải tìm hiểu và ghi chú để tính cho đúng.
3. Tìm hiểu về trình tự thi công và biện pháp tổ chức thi công có ảnh hưởng tới khối lượng. Với những công trình lớn thì biện pháp thi công sẽ ảnh hưởng nhiều tới khối lượng và giá. Với công trình này thì có lẽ chỉ lưu ý là phải đào đất thì mới làm được móng (liệu có ai quên tính khối lượng đào đất không nhỉ)
4. Lập danh sách công việc: Bạn sẽ liệt kê các công việc cần làm. Thường tôi lập theo trình tự thi công (làm cái gì tính tiền cái đó) là dễ kiểm soát và đỡ sai sót nhất.
Danh sách công việc bạn xem ở file bài giải.
5. Tính khối lượng: Bạn áp dụng công thức tính diện tích và thể tích. Khối lượng xem ở file bài giải.
Thứ Hai, 2 tháng 9, 2013
Bài 7: Một số lưu ý khi tính khối lượng
1. Lưu ý tách các khối lượng đơn giá khác nhau: Các công tác có tính chất khác nhau thì đơn giá cũng khác nhau. VD: Tô tường dày 2cm thì đơn giá cao hơn tô dày 1,5cm. Khi tính khối lượng, bạn phải tách ra để sau áp giá cho đúng. Hồi đầu mới làm tôi cũng không để ý, tính gộp khối lượng các công tác mà không chia theo chiều cao, sau áp giá không được lại phải loay hoay tách ra, rất mất thời gian.
Bạn hãy căn cứ vào cuốn định mức hoặc đơn giá để biết cách chia tách cho hợp lý.
Đối với công trình nhà nước thì bạn phải tuân thủ cách chia tách theo bộ ĐG ĐM, nhưng với công trình tư nhân và nước ngoài thường người ta không chia tách quá chi tiết như vậy mà gộp những công tác đơn giá không khác biệt nhiều lắm cho dự toán đỡ dài dòng. VD: ĐG nhà nước tách BT cột, dầm, sàn, cầu thang, lanh tô nhưng với dự toán thực tế, họ có thể gộp chung tất cả khối lượng BT toàn công trình tính 1 đơn giá cho giản tiện và dễ kiểm soát.
2. Chú ý đơn vị tính: ĐGĐM nhà nước có nhiều công việc có đơn vị rất “buồn cười”: Ván khuôn đơn vị là 100m2 (tại sao không là m2 hay 1000m2), đào đắp đất bằng máy đơn vị là 100m3, lợp mái tôn đơn vị cũng là 100m2, đóng cừ tràm đơn vị là 100md. Với những công việc này, khi tính khối lượng bạn phải nhớ tính cho phù hợp với đơn vị. Chẳng hạn, ván khuôn thường tính ra m2, sau đó phải chia cho 100 để được đơn vị là (100m2). Cừ tràm sau khi tính ra số cây thì phải nhân (*) với chiều dài mỗi cây rồi chia (/) cho 100 thì mới được đơn vị là 100md
Những người mới làm dự toán hay bị sai ở chỗ này, làm giá trị dự toán tăng vọt và thường loay hoay không biết tại sao để điều chỉnh cho đúng.
3. Sai số: Trong xây dựng, sai số tương đối lớn, hơn nữa do ảnh hưởng của điều kiện thi công nên nhiều khi khối lượng thi công có khác biệt với khối lượng hình học.
Tất nhiên, nếu tính được khối lượng chính xác là tốt nhất, nhưng nhiều khi phải chấp nhận sai số hoặc tính trừ hao cho thi công
VD1: Bạn phải tính khối lượng xây bậc tam cấp hình uốn lượn rất đẹp. Nếu muốn tính chính xác thì phải sử dụng các kiến thức vi phân, tích phân v..v.. Nhưng thực ra việc đó không cần thiết lắm, vì giá trị phần này so với tổng công trình không lớn, khi thi công chưa chắc người thợ đã làm được chính xác như bản vẽ (xây rồi phải đẽo gọt …) nên thường tôi tính theo đường trung bình, chấp nhận sai số và nên tính dư một chút so với kích thước hình học.
VD2: Ở trên tường, có để thêm các lỗ thông gió 150x150. Về nguyên tắc, chỗ nào không xây thì phải trừ đi. Nhưng trong trường hợp này, nếu để các lỗ thì chưa chắc đã giảm được chi phí, so với việc xây thẳng qua. Vì khi để lỗ, người thợ không những không giảm được công xây mà còn tăng lên do phải đo đạc, chặt gạch … Vì vậy, trường hợp để các lỗ nhỏ, có thể không cần thiết phải trừ.
VD3: Tính khối lượng lót nền.
Trường hợp các cột ở giữa nhà và cạnh nhà, có thể không cần trừ, tương tự trường hợp xây tường ở trên vì khi cắt gạch để lót thì công tốn hơn, gạch hao hụt hơn mà viên cắt ra phải bỏ chứ ít khi dùng lại được vào chỗ khác.
Nếu nền có cạnh xéo hoặc bo tròn thì cũng không cần áp dụng công thức hình học chính xác mà có thể tính với cạnh lớn nhất, vì chỗ gạch cắt ra cũng không thể sử dụng lại được
Bạn hãy căn cứ vào cuốn định mức hoặc đơn giá để biết cách chia tách cho hợp lý.
Đối với công trình nhà nước thì bạn phải tuân thủ cách chia tách theo bộ ĐG ĐM, nhưng với công trình tư nhân và nước ngoài thường người ta không chia tách quá chi tiết như vậy mà gộp những công tác đơn giá không khác biệt nhiều lắm cho dự toán đỡ dài dòng. VD: ĐG nhà nước tách BT cột, dầm, sàn, cầu thang, lanh tô nhưng với dự toán thực tế, họ có thể gộp chung tất cả khối lượng BT toàn công trình tính 1 đơn giá cho giản tiện và dễ kiểm soát.
2. Chú ý đơn vị tính: ĐGĐM nhà nước có nhiều công việc có đơn vị rất “buồn cười”: Ván khuôn đơn vị là 100m2 (tại sao không là m2 hay 1000m2), đào đắp đất bằng máy đơn vị là 100m3, lợp mái tôn đơn vị cũng là 100m2, đóng cừ tràm đơn vị là 100md. Với những công việc này, khi tính khối lượng bạn phải nhớ tính cho phù hợp với đơn vị. Chẳng hạn, ván khuôn thường tính ra m2, sau đó phải chia cho 100 để được đơn vị là (100m2). Cừ tràm sau khi tính ra số cây thì phải nhân (*) với chiều dài mỗi cây rồi chia (/) cho 100 thì mới được đơn vị là 100md
Những người mới làm dự toán hay bị sai ở chỗ này, làm giá trị dự toán tăng vọt và thường loay hoay không biết tại sao để điều chỉnh cho đúng.
3. Sai số: Trong xây dựng, sai số tương đối lớn, hơn nữa do ảnh hưởng của điều kiện thi công nên nhiều khi khối lượng thi công có khác biệt với khối lượng hình học.
Tất nhiên, nếu tính được khối lượng chính xác là tốt nhất, nhưng nhiều khi phải chấp nhận sai số hoặc tính trừ hao cho thi công
VD1: Bạn phải tính khối lượng xây bậc tam cấp hình uốn lượn rất đẹp. Nếu muốn tính chính xác thì phải sử dụng các kiến thức vi phân, tích phân v..v.. Nhưng thực ra việc đó không cần thiết lắm, vì giá trị phần này so với tổng công trình không lớn, khi thi công chưa chắc người thợ đã làm được chính xác như bản vẽ (xây rồi phải đẽo gọt …) nên thường tôi tính theo đường trung bình, chấp nhận sai số và nên tính dư một chút so với kích thước hình học.
VD2: Ở trên tường, có để thêm các lỗ thông gió 150x150. Về nguyên tắc, chỗ nào không xây thì phải trừ đi. Nhưng trong trường hợp này, nếu để các lỗ thì chưa chắc đã giảm được chi phí, so với việc xây thẳng qua. Vì khi để lỗ, người thợ không những không giảm được công xây mà còn tăng lên do phải đo đạc, chặt gạch … Vì vậy, trường hợp để các lỗ nhỏ, có thể không cần thiết phải trừ.
VD3: Tính khối lượng lót nền.
Trường hợp các cột ở giữa nhà và cạnh nhà, có thể không cần trừ, tương tự trường hợp xây tường ở trên vì khi cắt gạch để lót thì công tốn hơn, gạch hao hụt hơn mà viên cắt ra phải bỏ chứ ít khi dùng lại được vào chỗ khác.
Nếu nền có cạnh xéo hoặc bo tròn thì cũng không cần áp dụng công thức hình học chính xác mà có thể tính với cạnh lớn nhất, vì chỗ gạch cắt ra cũng không thể sử dụng lại được
Bài 6: Kiểm tra khối lượng tính toán
Một số mẹo giúp bạn kiểm tra khối lượng đã tính hoặc kiểm khối lượng người khác tính toán.
1. Chú trọng những khối lượng có giá trị lớn. Những công việc có giá trị lớn nếu bị sai thì sai số sẽ lớn nên cần chú ý kiểm tra kỹ hơn. Tất nhiên những công việc có giá trị nhỏ vẫn phải cẩn thận nhưng lỡ có sai thì sai số cũng nhỏ hơn.
2. Kiểm tra bằng cách so sánh tương quan các khối lượng: Hầu hết các công việc có mối tương quan với nhau. Chẳng hạn khối lượng đà và sàn thường hơn kém nhau không nhiều. Trường hợp bạn thấy khối lượng BT đà lớn gấp vài lần sàn hoặc ngược lại thì phải kiểm tra lại (có thể làm sàn căng cáp thì sàn lớn hơn đà nhiều, hoặc làm dầm ô vuông thì KL dầm lớn hơn sàn nhiều vẫn hợp lý)
3. Kiểm tra bằng cách so sánh giá trị các công tác: Chỉ kiểm tra được sau khi đã áp giá. Tương tự như trên, các công tác có mối tương quan với nhau và dựa vào việc so sánh giá trị của chúng có thể tìm được sai sót. VD: giá trị ván khuôn đà và sàn thường tương đương với giá trị BT đà, sàn. Trường hợp bạn thấy giá trị ván khuôn sàn lớn hơn BT sàn rất nhiều thì có khả năng bạn chưa chia diện tích ván khuôn cho 100 (vì đơn giá nhà nước là 100m2).
4. Kiểm tra bằng cách so sánh tổng giá trị hạng mục: Cũng kiểm tra sau khi đã áp giá. Các hạng mục cũng có mối tương quan với nhau, chẳng hạn giá trị phần móng bằng khoảng 20-30% tổng giá trị công trình, phần BTCT thân khoảng 30-40%, phần hoàn thiện khoảng 30-50% tùy công trình. Nếu có những bất thường, bạn kiểm tra lại có thể có sai sót.
5. Kiểm tra dựa trên suất đầu tư: Chẳng hạn nhà văn phòng hiện nay khoảng 8tr-10tr/m2XD, nhà chung cư khoảng từ 6tr-8tr/m2XD, chung cư cao cấp từ 10tr-18tr/m2XD, sân đường BT khoảng 500.000-700.000đ/m2XD v..v.. Sau khi tính được tổng giá trị công trình, bạn tính suất đầu tư (trên mỗi m2, md ...) để so sánh xem giá trị đó đã hợp lý chưa.
1. Chú trọng những khối lượng có giá trị lớn. Những công việc có giá trị lớn nếu bị sai thì sai số sẽ lớn nên cần chú ý kiểm tra kỹ hơn. Tất nhiên những công việc có giá trị nhỏ vẫn phải cẩn thận nhưng lỡ có sai thì sai số cũng nhỏ hơn.
2. Kiểm tra bằng cách so sánh tương quan các khối lượng: Hầu hết các công việc có mối tương quan với nhau. Chẳng hạn khối lượng đà và sàn thường hơn kém nhau không nhiều. Trường hợp bạn thấy khối lượng BT đà lớn gấp vài lần sàn hoặc ngược lại thì phải kiểm tra lại (có thể làm sàn căng cáp thì sàn lớn hơn đà nhiều, hoặc làm dầm ô vuông thì KL dầm lớn hơn sàn nhiều vẫn hợp lý)
3. Kiểm tra bằng cách so sánh giá trị các công tác: Chỉ kiểm tra được sau khi đã áp giá. Tương tự như trên, các công tác có mối tương quan với nhau và dựa vào việc so sánh giá trị của chúng có thể tìm được sai sót. VD: giá trị ván khuôn đà và sàn thường tương đương với giá trị BT đà, sàn. Trường hợp bạn thấy giá trị ván khuôn sàn lớn hơn BT sàn rất nhiều thì có khả năng bạn chưa chia diện tích ván khuôn cho 100 (vì đơn giá nhà nước là 100m2).
4. Kiểm tra bằng cách so sánh tổng giá trị hạng mục: Cũng kiểm tra sau khi đã áp giá. Các hạng mục cũng có mối tương quan với nhau, chẳng hạn giá trị phần móng bằng khoảng 20-30% tổng giá trị công trình, phần BTCT thân khoảng 30-40%, phần hoàn thiện khoảng 30-50% tùy công trình. Nếu có những bất thường, bạn kiểm tra lại có thể có sai sót.
5. Kiểm tra dựa trên suất đầu tư: Chẳng hạn nhà văn phòng hiện nay khoảng 8tr-10tr/m2XD, nhà chung cư khoảng từ 6tr-8tr/m2XD, chung cư cao cấp từ 10tr-18tr/m2XD, sân đường BT khoảng 500.000-700.000đ/m2XD v..v.. Sau khi tính được tổng giá trị công trình, bạn tính suất đầu tư (trên mỗi m2, md ...) để so sánh xem giá trị đó đã hợp lý chưa.
Thứ Sáu, 30 tháng 8, 2013
Bài 5: Làm thế nào để bóc tách không bị thiếu khối lượng
Bạn nên tính dự toán trên bản vẽ in, và chuẩn bị một số bút chì, bút chì màu, bút dạ quang.
Nhiều người thích bóc trực tiếp trên bản vẽ CAD, và coi như vậy mới là chuyên nghiệp. Nhưng thực tế thì ngược lại. Cách bóc trực tiếp trên bản vẽ chỉ phù hợp với những công trình không lớn lắm, bản vẽ đơn giản, người bóc có thể nhớ được hầu hết các chi tiết. Còn với những bản vẽ lớn, phức tạp thì bắt buộc phải tính trên bản vẽ giấy, nếu không sẽ sai sót nhiều.
Các bạn nên bóc tách, ghi ra giấy trước, sau đó mới nhập vào máy. Thực ra, với những bộ bản vẽ lớn, phải lật đi lật lại nhiều thì bắt buộc phải ghi ra giấy chứ không thể gõ trực tiếp vào máy được.
Bạn có thể sử dụng mẫu sau để bóc tách:
Bạn hãy in hoặc photo, đóng thành tập (có thể sử dụng giấy nháp cho tiết kiệm)
Thực ra tôi thường sử dụng giấy nháp, không cần kẻ bảng vì tôi đã quen. Nhưng tôi vẫn giữ thói quen bóc ra giấy trước vì khi bóc ra giấy, phát hiện ra sai sót gì mình có thể quay lại sửa ngay (gạch xóa sửa trên giấy giúp ta nhớ được ta đã sai và sửa chữa thế nào chứ sửa trên máy thì chỉ còn số cuối cùng thôi). Vả lại, khi bóc ra giấy rồi nhập vào máy gần như sẽ thành bước kiểm tra lại khối lượng đã bóc nên số liệu đảm bảo hơn.
Bạn bóc tách, ghi ra giấy, bóc xong cấu kiện nào thì đánh dấu lại (bằng bút chì hay bút dạ quang) để tránh nhầm lẫn (tính thiếu hay tính trùng)
Chỉ cần ghi kích thước hoặc công thức tính, khi nhập vào máy máy sẽ tính khối lượng và cộng tổng
Bạn để ý, bản vẽ A2 không rõ chi tiết, tôi phải in thêm một số mặt bằng khổ A1. Khối lượng bóc tách được ghi ra giấy nháp nhưng chỉ ghi kích thước, sau này nhập vào máy thì máy tự nhân. Cái này tôi đã quen nên không cần kẻ bảng như trên mà làm trên giấy nháp trắng.
Mỗi khi tính xong một mảng tường, tôi dùng bút dạ quang đánh dấu. Như vậy sẽ tránh được sai sót hoặc tính trùng lắp.
Nhiều người thích bóc trực tiếp trên bản vẽ CAD, và coi như vậy mới là chuyên nghiệp. Nhưng thực tế thì ngược lại. Cách bóc trực tiếp trên bản vẽ chỉ phù hợp với những công trình không lớn lắm, bản vẽ đơn giản, người bóc có thể nhớ được hầu hết các chi tiết. Còn với những bản vẽ lớn, phức tạp thì bắt buộc phải tính trên bản vẽ giấy, nếu không sẽ sai sót nhiều.
Các bạn nên bóc tách, ghi ra giấy trước, sau đó mới nhập vào máy. Thực ra, với những bộ bản vẽ lớn, phải lật đi lật lại nhiều thì bắt buộc phải ghi ra giấy chứ không thể gõ trực tiếp vào máy được.
Bạn có thể sử dụng mẫu sau để bóc tách:
STT
|
TÊN CÔNG
VIỆC/DIỄN GIẢI
|
ĐV
|
SL
|
DÀI
|
RỘNG
|
CAO
|
K.LG
|
Thực ra tôi thường sử dụng giấy nháp, không cần kẻ bảng vì tôi đã quen. Nhưng tôi vẫn giữ thói quen bóc ra giấy trước vì khi bóc ra giấy, phát hiện ra sai sót gì mình có thể quay lại sửa ngay (gạch xóa sửa trên giấy giúp ta nhớ được ta đã sai và sửa chữa thế nào chứ sửa trên máy thì chỉ còn số cuối cùng thôi). Vả lại, khi bóc ra giấy rồi nhập vào máy gần như sẽ thành bước kiểm tra lại khối lượng đã bóc nên số liệu đảm bảo hơn.
Bạn bóc tách, ghi ra giấy, bóc xong cấu kiện nào thì đánh dấu lại (bằng bút chì hay bút dạ quang) để tránh nhầm lẫn (tính thiếu hay tính trùng)
Chỉ cần ghi kích thước hoặc công thức tính, khi nhập vào máy máy sẽ tính khối lượng và cộng tổng
Mỗi khi tính xong một mảng tường, tôi dùng bút dạ quang đánh dấu. Như vậy sẽ tránh được sai sót hoặc tính trùng lắp.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)






























